Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HSST

Ngày 16 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Cao Thị Đào
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Đỗ Minh
Ông Trần Đình Đậu

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký tòa án Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 82/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đỗ Thị N, sinh ngày 06/7/1986 tại Yên Bái; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Phố A, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái; chỗ ở hiện nay: Khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Gia P và bà Nguyễn Thị S; chồng: Hoàng Văn S1; Con: 04 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 22/01/2024 ra Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú, do bị cáo nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái, có mặt.
  2. Đỗ Gia H, sinh ngày 01/01/1993 tại Yên Bái; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Phố A, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái; chỗ ở hiện nay: Khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Gia P và bà Nguyễn Thị S; vợ: Lý Thị Q (Đã ly hôn); Con: 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 20/01/2024 cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với H. Hiện bị cáo đạng bị tạm giam tại trại tạm giam Công An tỉnh P, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Đỗ Gia N1, sinh năm 1988; Trú tại: Phố A, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái, (vắng mặt)
  2. Anh Quàng Văn D, sinh năm 1986; Trú tại: Xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, (vắng mặt)
  3. Chị Đào Thị H1, sinh năm 1994; Trú tại: Phố A, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái, (vắng mặt)
  4. Anh Lò Văn H2, sinh năm 1995; Trú tại: Thôn B, xã H, thị xã N, tỉnh Yên Bái,(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đỗ Thị N – sinh năm 1986 và Đỗ Gia H – sinh năm 1993, đều HKTT: Tổ dân phố A, Thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái (Nga và H là hai chị em ruột) đang làm và ở tại lán công trường xây dựng thuộc khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Tối ngày 10/01/2024, N bàn với H tìm mua ma túy về để N bán cho những người nghiện kiếm tiền chi tiêu cá nhân và nuôi con, số tiền bán ma tuý có được H sẽ đưa lại cho N. N bảo H liên hệ với Đoàn Văn H3 – sinh năm 1990, HKTT: Tổ dân phố A, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái để mua 4.000.000 đồng tiền ma túy Heroine, N đưa cho H 2.000.000 đồng và vay của H 2.000.000 đồng. H đồng ý và cầm tiền N đưa.

Ngày 11/01/2024, H gọi điện từ tài khoản messenger “Gia Huấn” của H đến tài khoản “Huy Đ” của H3 để hỏi mua 4.000.000 đồng tiền ma túy Heroine. H3 đồng ý và bảo H chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng cho H3. Sau đó, H chuyển 4.000.000 đồng từ số tài khoản 19034171636011 ngân hàng T2 của H đến số tài khoản 37110001164806 ngân hàng B mang tên Đào Thị H1 – sinh năm 1994, HKTT: Tổ dân phố A, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Khoảng 10 giờ ngày 12/01/2024, H3 gọi điện qua ứng dụng mesenger cho H và nói với H về việc H3 đã gửi ma túy qua xe ô tô khách và bảo H khoảng 11 giờ đến K đường C - Lào Cai để lấy ma túy, đồng thời H3 nói với H số điện thoại của nhà xe để liên hệ lấy ma túy. Sau đó, H nói lại với N về việc H3 đã gửi ma túy và bảo N đi lấy. Do bận con nhỏ nên N nhờ Đỗ Gia N1 - sinh năm 1988 là em trai của N hiện đang cùng làm và ở lán công trường xây dựng đi ra đường C - Lào Cai lấy hộ đồ, N1 đồng ý. N bảo N1 liên hệ với H để hỏi số điện thoại của xe khách, H cho N1 số điện thoại nhà xe là 0988.179.xxx và N1 liên hệ số điện thoại trên để lấy hàng cho N. Sau khi lấy được hàng cho N, N1 về lán và đưa lại cho N 01 hộp giấy màu nâu được dán kín rồi N1 bỏ đi. N mở hộp giấy màu nâu N1 đưa thấy bên trong có 01 túi nilon màu trắng bên trong có 80 gói giấy hai mặt đều

màu trắng có dòng kẻ (có gói có chữ), bên trong cả 80 gói đều chứa chất bột cục màu trắng là ma túy Heroine. N cất 79 gói ma túy vào 01 lọ thủy tinh màu nâu hình trụ có nắp vặn màu trắng bạc rồi cất giấu trong túi đựng quần áo của N. Còn 01 gói ma túy N gọi N1 đến và cho N1 sử dụng (Số ma túy này N1 đã sử dụng hết). Buổi tối cùng ngày, N gặp H và bảo H đã lấy được ma túy, nếu có ai hỏi mua thì H bảo N bán.

Khoảng 06 giờ ngày 16/01/2024, N lấy 04 gói ma túy từ trong lọ thủy tinh ra đưa cho H và bảo H nếu có ai hỏi mua thì bán với giá 100.000 đồng/01 gói. H đồng ý và cầm ma túy N đưa cất giấu trong người. Còn N lấy 12 gói ma túy đúc vào 01 túi nilon màu trắng và cất vào túi quần N đang mặc mục đích để ai hỏi mua thì bán với giá 100.000 đồng/01 gói. Đến khoảng hơn 06 giờ ngày 16/01/2024, Quàng Văn D – sinh năm 1986, HKTT: xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Dơi làm cùng công trường xây dựng với H) hỏi mua của H 100.000 đồng tiền ma túy H4 và xin nợ tiền. H đồng ý và đưa cho D 01 gói ma túy. Số ma túy này D đã sử dụng hết cho bản thân. Sau đó, Đỗ Gia V – sinh năm 1984, HKTT: xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái (V là anh trai của H) hỏi mua nợ của Huấn 100.000 đồng tiền ma túy Heroine, H đồng ý và lấy 01 gói ma túy đưa cho V, V cầm gói ma túy và bỏ đi. Còn 02 gói ma túy có đặc điểm là gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột cục màu trắng Huấn cất giấu ở giường ngủ của H mục đích ai hỏi mua ma túy thì tiếp tục bán.

Khoảng 09 giờ ngày 16/01/2024, Quàng Văn D gặp N và hỏi mua của N 100.000 đồng tiền ma túy Heroine, N đồng ý. Dơi đưa N 100.000 đồng, N cầm tiền D đưa đồng thời lấy 01 gói ma túy đang để trong túi quần đưa cho D. Số ma túy này D đã sử dụng hết cho bản thân. Đến hồi 10 giờ 10 phút ngày 16/01/2024, tại tổ A, khu H, phường G, thành phố V, N bị tổ công tác của Công an thành phố V phát hiện, kiểm tra và thu giữ 01 túi nilon màu trắng bên trong có 11 gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng có dòng kẻ và chữ, bên trong đều chứa chất bột cục màu trắng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong thu giữ 02 gói ma túy trên. Ngoài ra, còn tạm giữ của N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen đã cũ số imei 351610267571439 kèm 01 sim số 0399694028, tiền Việt Nam 700.000 đồng.

Còn về H, sau khi bán ma túy cho D và V, H tiếp tục làm việc. Đến hồi 10 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc một số đối tượng tụ tập gây mất an ninh trật tự tại lán nhà ở công trường N2 tỉnh Phú Thọ thuộc tổ A, khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác của Công an thành phố V tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, H tự giác lấy từ cuối giường chỗ H ngủ ra giao nộp 02 gói ma túy có đặc điểm là gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng có dòng kẻ, bên trong cả hai gói giấy đều chứa chất bột cục màu trắng và khai nhận đây là ma tuý Heroin của H mục đích để bán. Tổ công tác lập biên bản bắt

người phạm tội quả tang, niêm phong thu giữ 02 gói ma túy trên. Ngoài ra, còn tạm giữ của H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen đã cũ, số imei 354829099765335 kèm 01 sim số 0373922136 và tiền Việt Nam 500.000 đồng.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của N và H tại lán công trường xây dựng thuộc tổ A, khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, kết quả khám xét nơi ở của H không thu giữ gì, nơi ở của N thu giữ 01 lọ thủy tinh màu nâu có nắp vặn màu trắng bạc, bên trong có 63 gói giấy trong đó có 32 gói giấy mặt ngoài và mặt trong màu trắng có dòng kẻ và chữ và 31 gói giấy mặt ngoài và mặt trong màu trắng có dòng kẻ bên trong đều chứa chất bột, cục màu trắng. Tại chỗ, N khai nhận đây là ma tuý Heroin của N mục đích để bán. Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ, niêm phong 63 gói ma túy của N.

Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số chất bột cục màu trắng thu giữ của Đỗ Thị N. Tại Kết luận giám định số: 116/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:

"- Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 11 gói giấy niêm phong trong bì giấy ghi vật chứng thu giữ khi bắt quả tang của Đỗ Thị N, gửi đến giám định có tổng khối lượng là: 0,416 gam; là ma túy; loại: Heroine (hay Heroin).

- Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 63 gói giấy, niêm phong trong bì giấy ghi vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Thị N, gửi đến giám định có tổng khối lượng là: 1,682 gam; là ma túy; loại: Heroine

Heroine (H4) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất".

Hoàn trả lại 1,569 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số chất bột, cục màu trắng thu giữ của Đỗ Gia H. Tại Kết luận giám định số: 117/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: "Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 02 gói giấy gửi đến giám định là ma túy; có khối lượng là: 0,156 gam; loại: Heroine (hay H4), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất". Hoàn trả lại 0,090 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Căn cứ lời khai của N và H, Cơ quan điều tra đã triệu tập Đỗ Gia N1, Đỗ Gia V và Quàng Văn D đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Gia N1, Quàng Văn D đã

khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân như đã nêu trên, còn Đỗ Gia V bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra chưa triệu tập được.

Ngày 16/01/2024, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra xét nghiệm ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với N, H, N1 và D. Kết quả N và H âm tính với chất ma túy còn N1 và D dương tích với chất ma tuý. Công an thành phố ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N1 và D về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, hình thức phạt cảnh cáo.

Tại Cáo trạng số 70/CT-VKSVT ngày 18/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố: bị cáo Đỗ Thị N và bị cáo Đỗ Gia H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Đỗ Thị N và bị cáo Đỗ Gia H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Áp dụng: điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính:

  • Xử phạt bị cáo Đỗ Thị N từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 22/01/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
  • Xử phạt: bị cáo Đỗ Gia H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2024.

Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Của bị cáo Đỗ Thị N 600.000₫ (Sáu trăm ngàn đồng) và 01điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen đã cũ số imei 351610267571439; của bị cáo Đỗ Gia H 500.000 đồng.

Về xử lý vật chứng của vụ án và án phí:

  • Tịch thu, tiêu hủy: của bị cáo Đỗ Thị N 1,569 gam chất bột cục màu trắng còn lại sau giám định được đựng trong 01 bì niêm phong có số 116/KL- KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P, 01 sim số 0399694028 và 01 lọ thuỷ tinh màu nâu có nắp vặn màu trắng bạc; của Đỗ Gia H 0,090 gam chất bột cục màu trắng còn lại sau giám định được đựng trong 01 bì niêm phong có số 117/KL- KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P và 01 sim số 0373922136.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: của Đỗ Thị N 100.000 đồng; của Đỗ Gia H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen đã cũ, số imei 354829099765335;
  • Buộc Quàng Văn D phải nộp lại 100.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

- Trả lại cho Đỗ Gia N1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đã cũ, số imei 357705100829988 kèm 01 sim số 0788004450

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đỗ Thị N và bị cáo Đỗ Gia H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng:

Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo, người tham gia tố tụng khác đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đỗ Thị N, bị cáo Đỗ Gia H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay đều thống nhất phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 6 giờ ngày 16/01/2024, tại lán công trường xây dựng N2 tỉnh Phú Thọ thuộc tổ A, khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Đỗ Gia H đã một lần có hành vi bán trái phép chất ma túy không xác định được khối lượng cho Quàng Văn D, thu được số tiền 100.000 đồng và tàng trữ trái phép khối lượng 0,156 gam ma túy Heroine mục đích để bán thì bị tổ công tác của Công an thành phố V bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Khoảng 09 giờ ngày 16/01/2024 tại lán công trường xây dựng N2 tỉnh Phú Thọ thuộc tổ A, khu H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Đỗ Thị N đã một lần có hành vi bán trái phép chất ma túy không xác định được khối lượng cho Quàng Văn D, thu lời số tiền 100.000 đồng và tàng trữ trái phép khối lượng 2,098 gam ma túy Heroine mục đích để bán thì bị tổ công tác của Công an thành phố V bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Do NH cùng rủ nhau mua ma túy về bán để kiếm lời, H là người trao đổi mua bán ma túy với H3 nên NH phải chịu trách nhiệm hình sự chung về tổng khối lượng 2,254 gam ma túy Heroine mà cơ quan điều tra thu được khi bắt quả tang NH. H biết N mua ma túy về bán, N là người đưa ma túy cho H để đi bán kiếm lời. H đã bán 01 lần cho DN cũng bán 1 lần cho D nên NH phải chịu trách nhiệm

hình sự chung về lần N bán ma túy cho D và lần H bán ma túy cho D. Do vậy NH phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy tính chất vụ án thuộc trường hợp tội rất nghiêm trọng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống chung xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải, các bị cáo đã tự khai ra hành vi bán ma túy cho D nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra thể hiện bị cáo N và bị cáo H là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, bị cáo N có 600.000đ, bị cáo H có 500.000₫ đều là khoản tiền do lao động mà có, bị cáo N có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen đã cũ số imei 351610267571439 không liên quan đến việc phạm tội đó là một phần tài sản của các bị cáo nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 bì niêm phong số 116/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 1,569 gam chất bột cục màu trắng là ma tuý heroine thu giữ của N; 01 bì niêm phong số 117/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 0,090 gam chất bột cục màu trắng là ma tuý heroine thu giữ của H là những vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp
  • + Đối với 01 sim số 0399694028 là của N không có gia trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen đã cũ, số imei 354829099765335 kèm 01 sim số 0373922136 là của H sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy với H3, đó là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, còn sim số 0373922136 không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đã cũ, số imei 357705100829988 kèm 01 sim số 0788004450 là điện thoại của N1 dùng để liên lạc cần trả lại cho N1.
  • + Đối với 01 lọ thuỷ tinh màu nâu có nắp vặn màu trắng bạc là của N dùng để đựng ma tuý cần tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với số tiền 100.000 đồng là tiền N bán ma túy cho D là khoản tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • + Đối với số tiền 100.000 đồng Huấn bán ma túy cho D, D chưa trả cho H, cần buộc D phải nộp lại khoản tiền này để sung vào ngân sách nhà nước.
  • + Đối với Đoàn Văn H3 là người bán ma túy cho Đỗ Gia H: Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái được chính quyền địa phương và đại diện gia đình H3 cho biết: H3 có hộ khẩu thường trú tại A, S, Văn C, Yên Bái nhưng H3 thường xuyên không ở tại địa phương, hiện nay H3 ở đâu, làm gì chính quyền địa phương và gia đình không xác định được nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
  • + Đối với lần Đỗ Gia H khai đã bán ma tuý Heroine cho Đỗ Gia V ngày 16/01/2024, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập V đến làm việc nhưng V không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì gia đình và chính quyền địa phương không xác định được. Ngoài lời khai của H không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H về lần bán ma tuý này và xử lý đối với V.
  • + Đối với Đỗ Gia N1 là người đi lấy ma túy hộ Nga: Do N bận con nhỏ nên không đi lấy được, N nói với N1 là đi lấy hàng hộ, không nói cho N1 biết là đi lấy ma túy. Bản thân N1 không kiểm tra gói hàng nên không biết bên trong có chứa ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
  • + Đối với hành vi cho N1 01 gói ma túy để sử dụng của N: Do N1 là em trai của NN biết N1 sử dụng ma túy nên cho N1 01 gói ma túy, số ma tuý này N1 đã sử dụng hết cho bản thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định khối lượng ma tuý để xử lý đối với N.
  • + Đối với Đào Thị H1 là chủ số tài khoản 37110001164806 mà H khai chuyển tiền để mua ma túy của H3. Cơ quan điều tra đã làm việc với chị H1 và được chị H1 cho biết: ngày 11/01/2024, khi chị H1 đang bán hàng ở nhà thì H3 đến gặp và nói với chị H1H chuyển tiền cho người nhà và nhờ H3 nhận giúp nhưng H3 không có tài khoản nên H3 chuyển nhờ vào tài khoản của chị H1. Chị H1 đồng ý và sau khi nhận được tiền do H chuyển, chị H1 đã đưa cho H3 4.000.000 đồng tiền mặt. Chị H1 không được hưởng lợi gì, không biết việc H chuyển tiền cho H3 là để mua ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
  • + Đối với anh Lò Văn H2 trong quá trình đón trả khách và hàng hóa. Khi anh H2 nhận gửi số ma túy trên, do số ma túy được để trong hộp giấy dán kín, anh H2 không kiểm tra nên không biết bên trong có gì do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Do người gửi hàng cho anh H2 bịt kín mặt nên anh H2 không biết là ai nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.

[3]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm a,b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị N và bị cáo Đỗ Gia H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    • - Xử phạt bị cáo Đỗ Thị N 08 (T) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ (Từ ngày 16/01/2024 đến ngày 22/01/2024).
    • - Xử phạt bị cáo Đỗ Gia H 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 16/01/2024

    Hình phạt bổ sung:

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: của bị cáo Đỗ Thị N 600.000₫ và 01điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen đã cũ số imei 351610267571439; của bị cáo Đỗ Gia H 500.000đ.
  2. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu, tiêu hủy: của bị cáo Đỗ Thị N 1,569 gam chất bột cục màu trắng còn lại sau giám định được đựng trong 01 bì niêm phong có số 116/KL- KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P, 01 sim số 0399694028 và 01 lọ thuỷ tinh màu nâu có nắp vặn màu trắng bạc; của Đỗ Gia H 0,090 gam chất bột cục màu trắng còn lại sau giám định được đựng trong 01 bì niêm phong có số 117/KL- KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P và 01 sim số 0373922136.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: của Đỗ Thị N 100.000 đồng; của Đỗ Gia H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen đã cũ, số imei 354829099765335;
    • - Buộc Quàng Văn D phải nộp lại 100.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
    • - Trả lại cho Đỗ Gia N1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đã cũ, số imei 357705100829988 kèm 01 sim số 0788004450

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/5/2024 giữa Công an thành phố V và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì và Biên lai thu tiền số 0004646 ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đỗ Thị N và bị cáo Đỗ Gia H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
  • - THA HS, DS thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
  • - Các bị cáo;
  • - UBND TT.Trấn Sơn Thịnh, H.Văn Chấn, T.Yên Bái;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cao Thị Đào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HSST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 76/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị N và Đỗ Gia H phạm tội: "Mua bán tái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger