Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HSST

Ngày 13 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Ngọc Chiến và bà Nguyễn Thị Hiền

Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Thu Trang là thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Trịnh Hải Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. ĐOÀN TUẤN A1 - tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 20 tháng 7 năm 1990 tại: C, Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ H, khu F, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: công nhân Công ty T3; con ông: Đoàn Văn D; con bà: Bùi Thị H; vợ, con: không; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 23/12/2023; tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C - có mặt tại phiên tòa

2. NGUYỄN DANH T1 - tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 09 tháng 02 năm 1998 tại: C, Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ G, khu I, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 8/12; nghề nghiệp: công nhân Công ty T4; con ông: Nguyễn Danh B; con bà: Cao Thị N; vợ: Lương Bích có 01 con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 23/12/2023; tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C - có mặt tại phiên tòa

3. LÊ VĂN T2 - tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 23 tháng 4 năm 1988 tại: Đ, Lạng Sơn; nơi cư trú: tổ G, khu I, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở hiện tại: tổ E, khu G, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 11/12; nghề nghiệp: công nhân Công ty T5; con ông: Lê Xuân L; con bà: Đoàn Thị T; vợ: Nguyễn Thị H1, có 01 con, sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 23/12/2023; tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C - có mặt tại phiên tòa;

4. BÀNG VĂN K - tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 05 tháng 7 năm 1982 tại: C, Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ B, khu E, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Bàng Văn C; con bà: Trần Thị C1; vợ: Nguyễn Thị Y, có 01 con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 23/12/2023; tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C - có mặt tại phiên tòa.* Người làm chứng: chị Lò Thị H2, Lường Thị A, Nguyễn Thị D1 (cùng vắng mặt) và bà Đỗ Thị B1 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 22/12/2023, Đoàn Tuấn A1 cùng Nguyễn Danh T1, Lò Thanh H3 cùng nhau đi ăn uống ở quán Đ tại khu vực đường V. Khi ăn, Tuấn A1T1 bàn bạc riêng với nhau về việc sau khi ăn xong sẽ tìm chỗ sử dụng ma túy, H3 không biết việc này. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T1, Tuấn A1 và H3 đi taxi đến Quán K1, thuê phòng hát, nhưng chị Nguyễn Thị Y chủ quán không đồng ý cho thuê phòng. T1 gọi điện cho Bàng Văn K bảo chở cả nhóm đến Quán K2 thuộc tổ D, khu A, phường M. Lúc này, K đang ở nhà, nên đã gọi điện cho một người tên Q (không rõ lai lịch, địa chỉ), làm lái xe taxi, thường hay đỗ xe ở cửa Quán karaoke DJ Hân của vợ K, nhưng anh Q bận việc không đi được, K đã mượn xe của anh Q, đi đến đón nhóm của T1 (không nhớ biển số xe). Trên đường đi, T1 hỏi mua của K 01 chỉ ma túy Ketamine để sử dụng, K đồng ý và báo giá 2.200.000 đồng. Đến cửa Quán K2, T1 chuyển khoản cho K, rồi cùng mọi người đi vào quán, thuê phòng hát và được chị Đỗ Thị B1 (là người giúp việc) bố trí cho thuê phòng VIP 1, Tuấn A1 còn gọi thêm một nhân viên nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ) vào phục vụ.

Còn K sau khi nhận được tiền, K đã liên lạc qua Z với một người tên Nguyễn Đắc H4, hỏi mua 01 chỉ ma túy. Sau khi mua được ma túy, K mang đến gần quán K2, gọi điện cho T1 ra lấy, mang vào Phòng Vip1 đưa cho Tuấn A1, rồi Tuấn A1 đi xuống khu vực bếp của quán lấy một chiếc đĩa nhựa mang vào phòng, đổ ma túy vào đĩa, dùng thẻ căn cước của mình đánh nhuyễn. Trong khi đó, nữ nhân viên phục vụ dùng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, cuộn thành ống hút, cố định hai đầu bằng vỏ tóp thuốc lá để hít ma túy. Đánh nhuyễn ma túy xong, thì Tuấn Al tự sử dụng rồi mời T1, H3 và nữ nhân viên sử dụng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Tuấn A1 gọi điện rủ Lê Văn T2 đến và dặn T2 mang theo một chiếc đĩa sứ đến để phục vụ cho việc sử dụng ma túy. T2 đồng ý, rồi gọi điện rủ Nguyễn Thị D1 đi cùng sử dụng ma túy.

Sau khi gọi điện rủ T2, Tuấn A1 bàn với T1 mua thêm ma túy để mọi người sử dụng, T1 đồng ý. Tuấn A1 liền gọi cho K bảo mua thêm 02 viên thuốc lắc và 01 chỉ ma túy Ketamine, K đồng ý và báo giá 3.200.000 đồng, Tuấn Al báo lại cho T1. Sau đó, T1 chuyển khoản cho Tuấn A1, rồi Tuấn Al chuyển khoản lại cho K. Mua được ma túy, K mang đến cửa Quán karaoke For Y1, gọi điện cho Tuấn A1, nhưng T1 nghe máy, rồi đi xuống nhận ma túy, mang về phòng Vip1 đưa cho Tuấn A1. Giao ma túy xong, K điều khiển xe về trả cho anh Q. Đến khoảng 0 giờ 30 phút ngày 23/12/2023, T2 cùng chị D1 đến, lấy từ trong áo khoác ra 01 chiếc đĩa sứ để dùng vào việc sử dụng ma túy. Tuấn Al dùng chai nhựa trong phòng nghiền nhuyễn ma túy thuốc lắc ra rồi đổ vào cốc hòa với nước coca và mời tất cả mọi người trong phòng gồm T1, H3, T2, D1 và nữ nhân viên sử dụng. Sử dụng xong ma túy thuốc lắc thì Tuấn A1 tiếp tục đổ ma túy Ketamine từ túi nilon ra đĩa sứ mà T2 mang tới, dùng thẻ căn cước đánh nhuyễn, chia thành nhiều đường nhỏ, tự sử dụng, rồi mời mọi người trong phòng sử dụng. Cả nhóm sử dụng ma túy một lúc thì nữ nhân viên bỏ ra ngoài, Tuấn Al gọi điện rủ thêm Lường Thị A đến để sử dụng ma túy cùng nhóm. Khoảng 10 phút sau, A vào phòng, thì được Tuấn A1 mời sử dụng ma túy thuốc lắc và ma túy Ketamine. Cả nhóm Tuấn A1, T1, T2, H3, D1, A đang sử dụng ma túy cùng nhau đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày thì tổ công tác thuộc đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, công an T phố hợp với công an phường M kiểm tra Quán K2 và phát hiện sự việc.

Công an thu giữ: thu trên ghế sofa trong phòng: 01 đĩa sứ, trên mặt đĩa có dính chất bột màu trắng và những đồ vật sau: 01 thẻ căn cước mang tên Tuấn A1, trên mặt thẻ có dính chất bột máu trắng; 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng, cố định hai đầu bằng vỏ tóp điếu thuốc lá, trong lòng ống có dính chất bột màu trắng; 01 túi nilon kích thước (4x6)cm bên trong dính chất bột màu trắng; 01 đĩa nhựa, trên mặt đĩa có dính chất bột màu trắng. Quá trình giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Danh T1, Đoàn Tuấn A1, Lê Văn T2Bàng Văn K, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 điện thoại di động vỏ màu bạc, lắp 01 sim thu giữ của Tuấn A1; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO, lắp 01 sim thu giữ của T1; 01 điện thoại dộng nhãn hiệu OPPO, lắp 01 sim thu giữ của T2; 01 điện thoại dộng nhãn hiệu OPPO, lắp 02 sim thu giữ của K.

Các Kết luận giám định số 1859, 1860 ngày 29/12/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh Q, kết luận: chất bột màu trắng trên bề mặt đĩa sứ; trên thẻ nhựa căn cước công dân, tờ tiền 10.000 đồng; trong túi nilon và trên bề mặt đĩa nhựa gửi giám định đều là ma túy, loại Ketamine, dạng vết không xác định được khối lượng; Tìm thấy chất ma túy MDMA và D2 (là sản phẩm chuyển hóa của ma túy Ketamine) trong mẫu nước tiểu của Đoàn Tuấn A1, Nguyễn Danh T1, Lê Văn T2, Lò Thanh H3, Nguyễn Thị D1. Tìm thấy chất ma túy Ketamine trong mẫu nước tiểu của Lường Thị A.

Cáo trạng số 614/CT-VKSCP, ngày 16/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, đã truy tố bị cáo Đoàn Tuấn A1, Nguyễn Danh T1, Lê Văn T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS; truy tố Bàng Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS

Tại phiên tòa, các bị cáo Đoàn Tuấn A1, Lê Văn T2, Nguyễn Danh T1, Bàng Văn K đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Toàn bộ số tiền phục vụ cho việc sử dụng trái phép chất ma túy là do T1 chi trả, sau đó sẽ chia ba, Tuấn A1T2 sẽ trả lại tiền cho T1 sau. Ngoài ra, K khai: Cả hai lần K bán ma túy cho T1 vào đêm 22/12/2023, K đều mua của Nguyễn Đắc H4, lần 01 mua 2.000.000đồng, bán cho T1 2.200.000đồng; lần 02 mua 3.000.000đồng, bán 3.200.000đồng, đều giao dịch ở khu vực gần Quán cà phê G, cách Quán K2 khoảng 800m. Tổng số tiền hai lần bán ma túy K đã chuyển khoản cho H4 2.700.000 đồng, số tiền còn nợ sẽ trả sau. T1K còn khai: trước đó K đã bán ma túy cho T1 nhiều lần khác, nhưng cả hai đều không nhớ cụ thể thời gian, địa điểm, chỉ nhớ được 1 lần vào khoảng 17 giờ, ngày 22/12/2023, tại đường ven sông T, phường M, K còn bán cho T1 02 chỉ ma túy Ketamine và 02 viên thuốc lắc với giá 5.200.000 đồng, thanh toán bằng hình thức chuyển khoản nhưng số ma túy T1 đã làm rơi mất. K khai thêm: nguồn gốc ma túy K bán cho T1, K mua của Nguyễn Đắc H4 với giá 5.200.000 đồng, lý do K không lấy lãi vì T1 là khách hàng thường xuyên đến hát tại quán của vợ K và để có mối đặt ma túy sau này. Ma túy K mua của H4 và bán lại cho T1Tuấn A1 là 04 chỉ Ketamine và 04 viên kẹo, K không cân lại nên không biết khối lượng là bao nhiêu,

Người làm chứng là chị Lò Thị H2, Lường Thị A, Nguyễn Thị D1 và bà Đỗ Thị B1 có lời khai xác nhận sự việc trên.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 điều 255, điểm s khoản 1 điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với Đoàn Tuấn A1, Nguyễn Danh T1Lệ Văn T2, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự với Tuấn A1T1; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251. điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự với Bàng Văn K; xử phạt: bị cáo Đoàn Tuấn A1 mức án từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù; Nguyễn Danh T1 mức án từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù; Lê Văn T2 mức án từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù và Bàng Văn K mức án từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù. Áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 đĩa sứ, 01 đĩa nhựa và 05 sim điện thoại, tịch thu xung ngân sách nhà nước 04 điện thoại di động và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ; truy thu của bị cáo K số tiền 2.700.000đ nộp ngân sách nhà nước; trả lại Tuấn A1 01 căn cước công dân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định pháp luật.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản kiểm tra và tạm giữ đồ vật do công an T lập hồi 01 giờ 35 phút ngày 23/12/2023, phù hợp kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Từ đó Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng thời gian từ 22 giờ 00 phút ngày 22/12/2023 đến 01 giờ 35 phút ngày 23/12/2023, tại P, Quán K2 thuộc tổ D, khu A, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, các bị cáo Đoàn Tuấn A1, Nguyễn Danh T1, Lê Văn T2 đã có hành vi tổ chức cho nhau và tổ chức cho Lò Thanh H3, Nguyễn Thị D1Lường Thị A sử dụng trái phép chất ma túy, loại Ketamine và MDMA. Ngày 22/12/2023, Bàng Văn K đã có hành vi hai lần bán ma túy Nguyễn Danh T1 và một lần bán cho Đoàn Tuấn A1 để hưởng lợi. Tổng lượng ma túy K đã bán là 04 chỉ Ketamine và 04 viên thuốc lắc, do ma túy đã bị sử dụng hết nên không thể xác định được khối lượng. Như vậy hành vi của các bị cáo Đoàn Tuấn A1, Nguyễn Danh T1, Lê Văn T2 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS. Hành vi của bị cáo Bàng Văn K đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội. Ngoài ra hành vi phạm tội của cấc bị cáo còn xâm hại đến các quan hệ xã hội khác như tính mạng, sức khỏe của con người, đồng thời còn làm gia tăng tệ nạn nghiên hút ma túy. Chúng ta đều biết ma túy là loại độc dược gây nghiện hết sức nguy hiểm cho người sử dụng nếu không tuân theo sự chỉ định của y, bác sỹ. Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và các quy định pháp luật nhưng đã bất chấp các qui định của pháp luật mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện nay trên địa bàn thành phố C, cũng như trên toàn quốc nói chung, tình trạng mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Vì vậy cần thiết phải xử lý nghiêm khắc các bị cáo nhằm mục đích giáo dục các bị cáo nói riêng và răn đe phòng chống tội phạm, phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án đồng phạm: Trong vụ án có 03 bị cáo là Tuấn A1, T1T2 đồng phạm với nhau trong đó Tuấn A1T1 cùng là người khởi xướng và cùng mua ma túy của K để tổ chức sử dụng. Tuy nhiên Tuấn A1 thực hiện nhiều hành vi phạm tội hơn, là người trực tiếp chế biến ma túy để những người khác sử dụng, trực riếp mời thêm 01 nhân viên nữ của quán K2, mời bị cáo T2Lường Thị A sử dụng ma túy nên giữ vai trò đầu, bị cáo T1 giữ vai trò thứ hai. Bị cáo T2 sau khi được Tuấn A1 mời đến sử dụng ma túy đã trực tiếp mời thêm Nguyễn Thị D1 đi sử dụng ma túy, khi đi thì chuẩn bị đĩa sứ là công cụ để chế biến ma túy nên giữ vai trò sau cùng. Bị cáo K thực hiện hành vi phạm tội độc lập nên chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của mình.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: - Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào

- Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên cho hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Tuấn A1T1, gia đình có người thân là liệt sỹ, bị cáo K gia đình có người thân là người có công trong kháng chiến được nhà nước tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến nên cho hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về vật chứng: Số ma túy sau giám định không hoàn lại nên không xem xét, 01 đĩa sứ, 01 đĩa nhựa và 05 sim điện thoại là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 04 điên thoại các bị cáo sử dụng để liên lạc tổ chức sử dụng ma túy, giao dịch mua ma túy và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000₫ được sử dụng làm công cụ sử dụng ma túy nên tịch thu xung ngân sách; 01 căn cước công dân mang tên Đoàn Tuấn A1 là giấy tờ tùy thân của bị cáo Tuấn Al nên trả lại cho bị cáo; bị cáo K thu lời bất chính số tiền 2.700.000 đ nên cần truy thu của K để nộp ngân sách nhà nước.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện không có tài sản thu nhập gì nên không áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Đối với người tên H4, theo Bàng Văn K khai là người đã bán ma túy cho K. Quá trình điều tra xác định là Nguyễn Đắc H4, sinh năm 2001, trú tại: thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên, nhưng H4 vắng mặt tại nhà và địa phương, gia đình không biết H4 đi đâu, làm gì, không có phương thức liên lạc với H4. Cơ quan điều tra Công an sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.

Đối với Lò Thanh H3, Nguyễn Thị D1, Lường Thị A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với người nhân viên nữ được bị cáo Đoàn Tuấn A1 gọi phục vụ, có hành vi dùng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, cuộn thành ống hút để mọi người sử dụng trái phép chất ma túy, do không biết nhân thân, lai lịch, nên không có căn cứ xử lý.

Đối với người đàn ông tên Q đã cho Bàng Văn K mượn xe ô tô để K chở nhóm Tuấn A1 đến Quán karaoke For Y1 và đi mua ma túy, do K không biết lai lịch, địa chỉ và biển số xe, nên không có căn cứ xử lý.

Đối với cơ sở kinh doanh Quán K2 sơ hở trong khâu quản lý, để các bị can tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng hát Vip1. Cơ quan điều tra đã gửi công văn đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

[9] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Đoàn Tuấn A1, Nguyễn Danh T1, Lê Văn T2 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS; Bàng Văn K đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự với T1Tuấn A1

Xử phạt: Đoàn Tuấn A1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 23/12/2023.

Xử phạt: Nguyễn Danh T1 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 23/12/2023.

Xử phạt: Lê Văn T2 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 23/12/2023.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự;

Xử phạt: B (bảy) năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 23/12/2023.

Căn cứ: điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,b khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy 01 đĩa sứ, 01 đĩa nhựa và 05 sim điện thoại, tịch thu xung ngân sách nhà nước 04 điện thoại di động và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ, trả lại bị cáo Đoàn Tuấn A1 01 căn cước công dân mang tên Đoàn Tuấn A1 (tất cả theo biên bản giao vật chứng số 122 ngày 11/6/2024 của Chi cục Thi hành án TP Cẩm Phả).

Buộc bị cáo K nộp lại số tiền 2.700.000đ (hai triệu bảy trăm ngàn đồng) xung vào ngân sách nhà nước.

Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tp Cẩm Phả;
  • - Cơ quan Điều tra, cơ quan thi hành án hình sự TP Cẩm Phả
  • - TAND tỉnh;VKSND tỉnh; sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh.
  • - Nơi giam giữ
  • - THA dân sự Tp Cẩm Phả;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu..

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Bùi Quang Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HSST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 76/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Tuấn A và đồng phạm - tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger