|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 76/ 2024/HSST Ngày 12/12/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Mạnh Tưởng và ông Nghiêm Xuân Hỏa
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hòa - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2024/TLST - HS ngày 26/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST - HS ngày 29/11/2024 đối với bị cáo: Trịnh Văn T, sinh năm 1980, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn Y, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn K (đã chết) và bà Bùi Thị A; có vợ Nguyễn Thị H và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2024. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1988
Trú Tại: Thôn Y, xã H, huyện M, huyện M, Thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 22/9/2024, Trịnh Văn T điều khiển xe máy Honda Wave, BKS: 29AM – 06679 của gia đình từ nhà đến bến xe số B thuộc thôn Đ, xã H, huyện M gặp Vương Văn C, sinh năm 1974, trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội, qua nói chuyện mua ma túy, T được C cho số điện thoại T chỉ nhớ số cuối “1654” hỏi mua 300.000 đồng ma túy Heroin, thì người đàn ông này nghe máy đồng và hẹn gặp ở B, xã H, huyện M để giao ma túy và nhận tiền. T điều khiển xe máy BKS: 29AM – 06679 đến khu vực bến xe H gặp và hỏi mua của 01 người thanh liên khoảng 20 tuổi, không rõ tên, địa chỉ được 01 gói Heroin với số tiền 300.000 đồng. Sau đó T cầm gói ma túy ở tay trái rồi đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi đến khu vực bến xe H, thuộc địa phận thôn Đ, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội thì bị lực lượng Công an huyện M yêu cầu dừng xe để kiểm tra, lúc này T liền thả gói giấy đựng ma túy xuống mặt đất nơi T đang đứng thì bị lực lượng Công an bắt, lập biên bản và thu giữ tang vật.
Tại kết luận giám định số: 6923/KL - KTHS ngày 01/10/2024 của phòng K1 Công an Thành phố H đã kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,145gam.
Tại bản cáo trạng số 87/CT - VKS - MĐ ngày 16/11/2024 của VKSND huyện Mỹ Đức đã truy tố Trịnh Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Tại phiên toà:
Bị cáo Trịnh Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt Trịnh Văn T từ 15 đến 18 tháng tù và không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên Trịnh Văn T, giám định viên và của cán bộ niêm phong.
- - Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A52S vỏ màu màu đen, có số thuê bao 0965054554 và 0862742982.
- - Trả lại cho chị Nguyễn Thị T1 (vợ bị cáo) 01 xe máy Honda Wave, BKS: 29AM – 06679.
Ngoài ra còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đối với bị cáo; các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.
Về nội dung vụ án: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với Kết luận điều tra, Cáo trạng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 22/9/2024, tại Bến xe H thuộc thôn Đ, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội, Công an thị trấn Đ phố hợp với Công an huyện M, Thành phố Hà Nội bắt quả tang Trịnh Văn T đang cất giữ 01 gói giấy, bên trong là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,145gam. Hành vi của bị cáo Trịnh Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương mà còn là nguyên nhân dẫn đến các vi phạm pháp luật khác, khiến dự luận bất bình lên án. Mặc dù bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng, xong do tính chất nguy hại của loại tội phạm này, nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo khắc phục sai phạm, cũng như để răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS mà giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Do bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi bất chính, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
- - 01 phong bì đã được cơ quan Công an thu giữ, niêm phong theo quy định của pháp luật, bên trong có chứa 0,145gam Heroine, theo kết luận giám định số 6923/KL - KTHS ngày 01/10/2024 của phòng K1 Công an Thành phố H, cần tịch thu để tiêu huỷ.
- - Đối với 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A52S vỏ màu màu đen, có số thuê bao 0965054554 và 0862742982, liên quan đến tội phạm, nên cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.
- - Đối với 01 xe máy Honda Wave, BKS: 29AM – 06679 mà bị cáo sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy, chiếc xe này là của vợ bị cáo, vợ bị cáo chị Nguyễn Thị T1 không biết bị cáo sử dụng chiếc xe này vào việc phạm tội, nên trả lại chiếc xe này cho chị Nguyễn Thị T1.
Qua lời khai của bị cáo Trịnh Văn T khai:
Đối với người đàn ông có số thuê bao số điện thoại 038724165 là người bán ma túy cho bị cáo Trịnh Văn T (theo lời khai của bị cáo T), Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định chủ số thuê bao 038724165 là Nguyễn Văn N, sinh năm 1986, trú tại: T - T - Vĩnh Long. Nguyễn Văn N không thừa nhận sử dụng số thuê bao này và không liên lạc bán ma túy cho T. Do không đủ tài liệu chứng cứ, chứng minh việc T trao đổi thỏa thuận mua bán ma túy, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ kết luận là phù hợp, Viện kiểm sát không đề nghị, nên Tòa không xét.
Đối với Vương Văn C là người cung cấp số điện thoại 038724165 cho T để liên lạc mua ma túy (theo lời khai của bị cáo T). Quá trình điều tra C không thừa nhận cung cấp số điện thoại cho T để liên lạc trao đổi mua ma túy. Do không đủ tài liệu chứng cứ, chứng minh việc C cung cấp số điện thoại, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ kết luận là phù hợp, Viện kiểm sát không đề nghị, nên Tòa không xét.
Ngoài ra buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2024.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS:
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của Trịnh Văn T, giám định viên, chữ ký của cán bộ niêm phong (không kiểm tra bên trong).
- - Tịch thu phát mại 01 điện thoại di động đã qua sử dụng Samsung Galaxy A52S, vỏ màu màu đen, bên trong gắn 02 sim thu giữ của Trịnh Văn T (được bọc bên ngoài phong bì mẫu vật dán kín niêm phong, có hình dấu Cơ quan CSĐT Công an huyện M, chữ ký họ tên Điều tra viên niêm phong).
- - Trả lại cho chị Nguyễn Thị T1 01 xe máy cũ đã qua sử dụng, nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29AM – 06679, số máy JA70E0559345, số khung: RLHJA3935RY674756.
- (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức ngày 04/12/2024).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trịnh Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án, phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Lã Phi Hùng |
Nơi nhận:
- - Trung tâm Lý lịch tư pháp TW - Bộ tư pháp;
- - TAND Thành phố Hà Nội;
- - VKSND huyện Mỹ Đức;
- - Công an huyện Mỹ Đức;
- - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
- - UBND xã Hương Sơn;
- - Bị cáo;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- - Lưu HS, VT.
Bản án số 76/2024/HSST ngày 12/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 76/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn T- Tàng trữ TPCMT
