|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2024/HS-ST Ngày 12 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Khuất Đăng Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến và Bà Nguyễn Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Triệu Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, đối với:
- Bị cáo: Tạ Quốc T, sinh năm 1989 tại thị xã S, thành phố Hà Nội.; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn H, xã B, huyện T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố đẻ: Tạ Văn T1, sinh năm 1963 và Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1963; Vợ: Hoàng Thị T2, sinh năm 1990; Con: Có 02 con trong đó lớn sinh năm 2012; nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh.
-
Người bị hại: Ông Kiều Doãn L, sinh năm 1956 (Đã chết);
Người đại diện theo pháp luật: Bà Kiều Thị V, sinh năm 1953; Địa chỉ: Xóm E, thôn L, xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Kiều Mạnh L1, sinh năm 1974; Địa chỉ: Xóm E, thôn L, xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội.
-
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Kiều Thị V, sinh năm 1953; Địa chỉ: Xóm E, thôn L, xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội.
- + Chị Kiều Thị H1, sinh năm 1978; Địa chỉ: Xóm B, thôn L, xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội.
- + Chị Kiều Thị H2, sinh năm 1982; Địa chỉ: Xóm E, thôn L, xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội.
- + Chị Kiều Thị H3, sinh năm 1988; Địa chỉ: Xóm C, thôn Đ, xã C, huyện Q, thành phố Hà Nội.
- Đại diện theo ủy quyền của bà V, chị H1, chị H2, chị H3 là ông Kiều Mạnh L1, sinh năm 1974; Địa chỉ: Xóm E, thôn L, xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội.
- + Anh Trịnh Quốc K, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.
- + Chị Kiều Thị H4, sinh năm; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội.
(Người có mặt: Bị cáo, ông L1. Người vắng mặt: bà V, chị H2, chị H3, chị H1, anh K, chị H4).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15/3/2022, Tạ Quốc T, sinh năm 1989; Trú tại: Thôn H, xã B, huyện T, thành phố Hà Nội điều khiển xe ô tô bán tải, màu đen, nhãn hiệu Chevrolet colorado, BKS: 29H- 395.92 đi trên đường A trong khu công nghệ cao Hòa Lạc. Khi đi đến ngã tư giao nhau giữa đường A với đường 5 khu công nghệ cao H, T không giảm tốc độ, vẫn điều khiển xe đi với tốc độ 68 km/h nên phần đầu bên trái xe ô tô BKS: 29H- 395.92 đã va chạm với xe mô tô BKS: 29V5- 178.29 do ông Kiều Doãn L, sinh năm 1956; Trú tại: Thôn L, xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội điều khiển đi theo hướng đường E đi đường C* gây ra tai nạn giao thông.
Hậu quả: Ông Kiều Doãn L bị tử vong; Xe ô tô BKS: 29H- 395.92, xe mô tô BKS: 29V5- 178.29 bị hư hỏng.
Tang vật thu giữ: 01 (một) xe ô tô BKS: 29H-395.92, số khung: 8MM0KH647353, số máy: P2G183601171; 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, số A, mang tên Tạ Quốc T; 01 (một) giấy đăng ký xe ô tô BKS: 29H- 395.92 số: 706702 mang tên Trịnh Thị Khánh H5 - SN: 1995; Trú tại: Thôn N, T, M, Hà Nội, 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số: 2838449, 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số: [...] của xe ô tô BKS: 29H- 395.92; 01(một) USB chứa 01(một) đoạn video trích sao từ camera hành trình nhãn hiệu Vietmap kiểu loại W810 lắp đặt trên xe ô tô BKS: 29H- 395.92; 01 (một) xe mô tô BKS: 29V5- 178.29, số khung: 456873, số máy: F33E-0537061; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BKS: 29V5-178.29 số: 020819 mang tên Kiều Thị H4.
Tài liệu khám nghiệm hiện trường: Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là ngã tư nơi giao nhau giữa đường 5 và đường A thuộc khu Công nghệ cao H, mặt đường được rải nhựa phẳng chỗ tiếp giáp ngã tư đường E hướng đi đường C* rộng 51m, chỗ tiếp giáp đường 5 hướng đi đường E* với ngã tư rộng 52,70m, đường A tiếp giáp với ngã tư là đường đôi được phân chia thành hai chiều xe có dải phân cách cứng ở giữa.
Các dấu vết: (1) Vết mài trượt cao su in màu đen mờ trên mặt đường; (2) Vết mài trượt xước mặt đường nhựa màu trắng đứt quãng; (3) Vết mài trượt cao su màu đen mờ; (4) Nhiều vết trượt xước mặt đường nhựa màu trắng đứt quãng; (5) Xe mô tô biển số: 29V5- 178.29; (6) Vết chất dung dịch màu nâu đỏ; (7) Xe ô tô biển số 29H- 395.92; (8) Nhiều mảnh nhựa vỡ sơn màu đen nâu, mảnh pha đèn màu trong vỡ rơi trên mặt đường.
Điểm mốc được xác định là tâm chỗ tiếp giáp với ngã tư của đường 5 theo hướng đường 5* đi đường C*, chỗ tiếp giáp rộng 51m. Quá trình khám nghiệm hiện trường tất cả các số đo vẽ, dấu vết và phương tiện được tính đo vào mép đường giả định của mặt đường 5 tiếp giáp với ngã tư theo hướng đường E* đi C*.
Mô tả các dấu vết: Cách điểm mốc được xác định thẳng về phía đường C 8,10m là tâm đầu của vết trượt cao su trên mặt đường theo chiều hướng đường C đi đường QL21A, vết dài 0,9m, rộng 0,1m. T3 đầu vết cách mặt đường giả định 7,95m, tâm cuối vết cách mặt đường giả định 7,8m đặt là số (1); Cách tâm đầu vết số (1) thẳng về phía đường QL21A 0,55m là tâm đầu của nhiều vết mài trượt xước mặt đường nhựa màu trắng đứt quãng theo chiều hướng đường C đi đường QL21A với tổng chiều dài 1,1m. T3 đầu vết cách mặt đường giả định 7,65m, tâm cuối vết cách mặt đường giả định 7,8m đặt là số (2); Cách tâm dấu vết số (2) thẳng về phía đường QL21A là tâm đầu của vết mài trượt cao su in màu đen mờ hướng đường C đi QL21A, vết rộng 0,22m, dài 0,75m, tâm đầu vết cách mặt đường giả định 7,7m, tâm cuối vết cách mặt đường giả định 7,65m đặt là số (3); Cách tâm đầu vết số (1) thẳng về phía đường QL21A 4,5m là tâm đầu của nhiều vết trượt xước mặt đường nhựa màu trắng đứt quãng theo chiều hướng đường C đi QL21A. Chiều rộng 0,8m với tổng chiều dài 12,3m. T3 đầu vết cách mép đường giả định 9m, tâm cuối vết cách mép đường giả định 14,2m đặt là số (4); Cách tâm cuối vết số (4) thẳng về phía đường QL21A 0,85m là tâm đầu trục bánh trước bên trái xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe hai bánh, sơn màu xanh – nâu, biển số: 29V5- 178.29 đổ sườn bên trái xuống mặt đường nhựa, đầu xe hướng về đường QL21A, đuôi xe hướng về phía đường C, tâm đầu trục bánh trước bên trái cách mép đường giả định 13,6m, tâm đầu trục bánh sau bên trái cách mép đường giả định 14,1m đặt là số (5); Cách tâm đầu vết số (1) thẳng về phía đường QL21A 19,3m là điểm trung tâm của vết chất dung dịch màu nâu đỏ bám dính trên mặt đường nhựa, vết có diện (0,3x0,2)m, điểm trung tâm của vết cách mép đường giả định 10,2m đặt là số (6); Cách tâm đầu trục bánh trước bên trái xe mô tô biển số: 29V5- 178.29 thẳng về phía đường QL21A 21,25m là tâm đầu trục bánh sau bên phải xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet, biển số: 29H-395.92 đỗ trên mặt đường nhựa, đầu xe hướng về phía đường QL21A, đuôi xe hướng về phía đường C, tâm đầu trục bánh trước bên phải cách mép đường bên phải 2,3m, tâm đầu trục bánh sau bên phải cách mép đường bên phải 2,4m đặt là số (7); Cách tâm dấu vết số (1) thẳng về phía đường QL21A là điểm trung tâm của nhiều mảnh nhựa vỏ sơn màu đen, nâu, mảnh nhựa pha đèn màu trong, vỏ rơi trên mặt đường nhựa, có diện (21,2x8,3)m. Điểm trung tâm của vết cách mép đường giả định 8,8m đặt là số (8).
Tài liệu khám nghiệm phương tiện: Xe mô tô BKS: 29V5- 178.29: Tại mặt ngoài ốp nhựa đầu xe có dấu vết trượt xước mất sơn màu xanh, bám dính chất màu trắng trên diện (20x12)cm chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất của vết cách mặt đất là 98cm; Tại mặt ngoài phía sau giảm sóc trước bên phải có dấu vết trượt xước bám dính chất màu đen diện (3x29)cm chiều từ sau về trước, điểm thấp nhất của vết cách mặt đất là 20cm; Tại mặt ngoài dọc cạnh vành bên phải lốp bánh trước có dấu vết trượt xước kim loại bám dính chất màu đen chiều từ mặt lăn vào vành; Tại mặt ngoài ốp vai cong giảm sóc trước bên phải có dấu vết trượt xước mất sơn màu xanh bám dính chất màu đen trên diện (9x4,5)cm, điểm thấp nhất của vết cách đất 48cm; Tại mặt ngoài bên phải khung trước chắn bùn bánh trước có dấu vết trượt xước trên diện (6x4,5)cm, điểm thấp nhất của vết cách đất 42cm; Tại mặt ngoài đầu tay phanh bên phải có dấu vết trượt xước kim loại diện (2x1)cm chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất của vết cách đất 102cm; Tại mặt ngoài đầu tay lái bên phải có dấu vết trượt xước trên diện (2,5x1)cm, chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất của vết cách đất 102,5cm; Tại mặt ngoài ốp nhựa sườn xe bên phải có dấu vết trượt xước trên diện (19x5)cm, chiều từ trên xuống dưới, từ trước về sau, điểm thấp nhất của vết cách đất 55cm; Tại mặt ngoài tay nâng phía sau bên phải có dấu vết trượt kim loại (6x0,5)cm, chiều từ trên xuống dưới, từ trước về sau, điểm thấp nhất của vết cách đất 74cm; Ốp ống xả bên phải bị gẫy vỡ. Trên bề mặt có dấu vết trượt xước bám dính chất màu đen, diện (36x13)cm, chiều từ trên xuống dưới, điểm thấp nhất của vết cách đất 13cm; Tại mặt ngoài cạnh bên phải biển số sau có dấu vết biến dạng kim loại trượt xước bám dính chất màu trắng diện (8x0,5)cm, điểm thấp nhất của vết cách đất 49cm; Tại mặt ngoài ốp nhựa đèn phía sau bên phải có dấu vết trượt xước diện (2x15)cm, điểm thấp nhất của vết cách mặt đất 62cm; Ốp mặt nạ đầu xe, cánh yếm bên phải, ốp sàn để chân trước bên trái bên phải bị gãy vỡ không còn ở xe.
Xe ô tô BKS: 29H- 395.92: Tại mặt ngoài cánh cửa trước bên trái có dấu vết trượt xước mất sơn màu đen bám dính chất màu trắng trên diện (35x25)cm chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất của vết cách đất là 52cm; Tại mặt ngoài khung kim loại phía dưới cánh cửa trước bên trái có dấu vết biến dạng trượt xước mất sơn màu đen trên diện (10x6,5cm), chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất của vết cách đất 40cm; Ốp nhựa bậc lên xuống phía trước bên trái có dấu vết gãy vỡ diện (35x7)cm, điểm thấp nhất của vết cách đất 29cm; Tại mặt ngoài tai xe bên trái có dấu vết biến dạng trượt xước, mất sơn màu đen, bám dính chất màu xanh diện (112x82)cm chiều từ trước về sau, từ trái qua phải, điểm thấp nhất của vết cách đất 46cm; Tại mặt ngoài bên phải chắn đà trước có dấu vết biến dạng trượt xước mất sơn màu đen bám dính chất màu xanh diện (34x32)cm chiều từ trái qua phải, từ trước về sau, điểm thấp nhất của vết cách đất 30cm; Tại mặt ngoài la giăng bánh trước bên phải có dấu vết trượt xước bám dính chất màu xanh và màu đen trên diện (32x10)cm điểm gần nhất của dấu vết trùng với chữ "R" trong dòng chữ "BRIDGESTONE"; Tại mặt ngoài má ngoài lốp bánh trước bên trái có dấu vết trượt xước mất cao su màu đen bám dính chất màu xanh trên diện (50x10)cm điểm gần nhất của vết trùng với chữ "O" trong dòng chữ "BRIDGESTONE"; Gương chiếu hậu phía trước bên trái bị vỡ gãy; Khung kim loại bên trái kính chắn gió phía trước có dấu vết biến dạng kim loại diện (26x5)cm chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất của vết cách đất 130cm.
Tài liệu giám định và định giá:
a. Kết luận giám định dấu vết va chạm giữa xe ô tô BKS: 29H- 395.92 với xe mô tô BKS: 29V5- 178.29.
* Tại kết luận giám định số 2039/KL-KTHS ngày 15/4/2022 của V1 - Bộ C2 kết luận:
- - Dấu vết trượt xước, mất cao su màu đen, bám dính chất màu xanh ở mặt ngoài má ngoài lốp bánh trước bên trái xe ô tô BKS: 29H- 395.92 có chiều từ mặt lăn vào vành bánh xe, phù hợp với dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen, mất sơn màu xanh ở mặt ngoài ốp vai càng giảm xóc trước bên phải xe mô tô BKS: 29V5- 178.29. Dấu vết va chạm ở xe mô tô BKS: số 29V5- 178.29 tại vị trí này có chiều từ sau về trước.
- - Dấu vết trượt xước, mất chất màu đen ở mặt ngoài bậc lên xuống cửa trước bên trái xe ô tô BKS: 29H- 395.92 có chiều từ dưới lên trên, phù hợp với dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen ở mặt ngoài ốp ống xả bên phải xe mô tô BKS: 29V5- 178.29. Dấu vết va chạm ở xe mô tô BKS: 29V5- 178.29 tại vị trí này có chiều từ trên xuống dưới.
- - Không xác định được tốc độ của xe ô tô BKS: 29H- 395.92 và xe mô tô BKS: 29V5- 178.29 ngay trước khi xảy ra tai nạn là bao nhiêu km/h. Kèm theo kết luận giám định: 01 bản ảnh giám định.
b. Kết luận giám định xác định vận tốc của xe ô tô biển số 29H- 395.92 ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn giao thông qua 01 đoạn video được trích sao từ camera hành trình nhãn hiệu Vietmap kiểu loại W810 lắp đặt trên xe ô tô BKS: 29H- 395.92:
- Tại kết luận giám định số 6363/KL-KTHS ngày 17/10/2023 của V1 - Bộ C2 kết luận:
Vận tốc của xe ô tô ngay trước thời điểm xảy ra va chạm vào 15 giờ 38 phút 38 giây ngày 15/3/2022 hiển thị trên video là: 68km/h.
c. Kết luận định giá tài sản :
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 14/KL - HĐĐG ngày 28/2/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, TP Hà Nội kết luận như sau:
- - Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh, BKS: 29V5- 178.29, số máy: JF33E0537061, số khung: 456873, đăng ký mới ngày 18/02/2014, giá thay thế, sửa chữa là 2.223.000₫.
- - Xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Colorado, màu đen, BKS: 29H- 395.92, số khung: 8MMOKH647353, số máy: P2G183601171, đăng ký ngày: 08/6/2020, giá thay thế, sửa chữa là 10.483.000đ.
Tổng giá trị thay thế, sửa chữa các tài sản trên là 12.706.000đ.
d. Bản kết luận giám định pháp y:
Tại kết luận giám định số 360/318/GĐTT-TTPY ngày 12/4/2022 của Trung tâm P kết luận:
- * Các dấu hiệu chính qua giám định:
- - Vùng ngực, bụng bị va đập vào vật tày với lực tác động rất mạnh gây:
- + Gãy toàn bộ cung trước và cung bên xương sườn hai bên.
- + Gãy cung sau xương sườn II, III, IV, V VI, VII bên phải.
- + Gãy khớp ức - sườn VI, VII, VIII bên phải.
- + Rách màng tim, vỡ tim.
- + Dập gan.
- + Dập nhu mô phổi hai bên, rách phổi trái.
- + Chảy máu nhu mô phổi.
- - Gãy xương hàm dưới, lung lay răng 1.1.
- - Biến dạng xương đùi phải.
- - Mẫu máu của nạn nhân Kiều Doãn L giám định: Không có E.
- - Mẫu máu của nạn nhân Kiều Doãn L giám định: Âm tính với M, C, C1, A, Methamphetamine, Ketamine, MDA, MDMA, MDEA.
- * Nguyên nhân chết: Nạn nhân Kiều Doãn L, sinh năm 1956 tử vong do Đa chấn thương: Chấn thương ngực, chấn thương bụng rất nặng (vỡ tim, dập rách nhu mô phổi, gãy phức tạp nhiều xương sườn) dẫn đến suy tuần hoàn cấp không hồi phục./.
VKS luận tội:
Hành vi của Tạ Quốc T đã phạm tội “Vi phạm quy đinh về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 52 BLHS. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51 BLHS và 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS.
Về vật chứng, tài sản là phương tiện tham gia giao thông, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô, giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô bắt buộc đã được Công an huyện T trả cho chủ sở hữu là đúng pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Tạ Quốc T thành khẩn nhận tội. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm phương tiện; Kết luật giám định; Lời khai đại diện người bị hại, người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định hành vi của Tạ Quốc M1 đã phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 260 BLHS.
Hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ được pháp luật bảo vệ. Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông xảy ra gây thiệt hại về tính mạng người khác được pháp luật bảo vệ là do Tạ Quốc T không chấp hành quy định về an toàn khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông với tốc độ 73km/h, khi đi đến đoạn ngã tư giao nhau giữa đường A với đường E, T không giảm tốc độ vẫn điều khiển xe đi với tốc độ 67 đến 68km/h dẫn đến không đảm bảo an toàn nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô BKS: 29V5- 178.29 do ông Kiều Doãn L điều khiển. Hành vi của Tạ Quốc T đã vi phạm Điều 24 Luật giao thông đường bộ và khoản 2, 3 Điều 4; khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
Tạ Quốc T là một công dân trong độ tuổi lao động, được giáo dục nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng bản thân. Bị cáo biết rõ nguy hiểm khi điều khiển nguồn nguy hiểm cao độ để tham gia giao thông đường bộ nhưng vì thái độ coi thường luật pháp, không tuân thủ quy tắc an toàn khi tham gia giao thông đường bộ gây hậu quả rất nghiêm trọng đối với xã hội gây thiệt hại tính mạng của người khác mà pháp luật bảo vệ. Vì vậy, thấy cần thiết có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục Tạ Quốc T trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tạ Quốc T không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 52 BLHS. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51 BLHS đó là “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 3 điều 51 BLHS đó là “Bị cáo đầu thú” và “ Đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt” “Người bị hại cũng có lỗi”. Bị cáo phạm tôi vô ý, có công việc ổn định và nơi cư trú rõ ràng nên khi lương hình cũng cần xem xét để có hình phạt tương xứng với mức độ nguy hiểm mà bị cáo gây ra cho xã hội, đồng thời áp dụng điều 65 BLHS để tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại địa phương với sự giám sát giáo dục của gia đình và chính quyền cũng giúp bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Xét thấy: Tội bị cáo phạm phải có quy định hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, thấy rằng tham gia giao thông đường bộ không phải là nghề của bị cáo nên thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Công an huyện T đã tiến hành trả lại phương tiện là vật chứng, tài sản tạm giữ trong vụ án cho các chủ sở hữu là đúng pháp luật.
Về dân sự: Chủ sở hữu tài sản, đại diện người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã nhận lại tài sản, tiền bồi thường và không có yêu cầu về dân sự nên không buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm dân sự.
Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
[2] Xét thấy: Các tài liệu chứng cứ mà Viện kiểm sát duy trì công tố tại phiên tòa đưa ra xác định Tạ Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Tạ Quốc T, phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
-
Căn cứ vào khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1 điều 51; điều 65 BLHS.
Xử phạt: T (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung đối với Tạ Quốc T.
Giao Tạ Quốc T về UBND xã B, huyện T, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
- Về án phí: Tạ Quốc T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đại diện người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/ M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Khuất Đăng Cường |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tạ Quốc T phạm tội Vi phạm quy định về giao thông đường bộ
