|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2024/DS-ST
Ngày: 11-9-2024
“V/v tranh chấp dân sự về chia tài
sản chung trong hộ gia đình”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
***
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Duy Oanh;
Ông Đặng Thanh Cao.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Vân An - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lai Vung.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Dang - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 09 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/2024/TLST-DS, ngày 08 tháng 04 năm 2024, về việc “Tranh chấp dân sự về quyền tài sản là quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 08 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Ông Lê Văn T, Sinh năm: 1947; 1.2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1950; Cùng địa chỉ: Số nhà A, ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Ông Lê Văn T ủy quyền cho ông Lê Ngọc P - Sinh năm: 1997; Địa chỉ: D, ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn:
2.1. Lê Thanh P1, sinh năm 1973; Địa chỉ: A ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
2.2. Lê Thị Cẩm L, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số nhà H, ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
2.3. Lê Thị Xuân K, sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Lê Phú D, sinh năm 1975; 3.2. Đặng Thị Thúy E, sinh năm: 1973; 3.3. Lê Ngọc N, sinh năm: 2010; Cùng địa chỉ: Số nhà A, ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật của Lê Ngọc N là Lê Phú D và Đặng Thị Thúy E; Cùng địa chỉ: Số nhà A, ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
3.4. Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Đ; Người đại diện theo pháp luật là ông Hồ Thanh P2 – Chức vụ: Giám đốc; Địa chỉ: 11 QL C, xã A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Ủy quyền cho ông Nguyễn Hoàng H1; Địa chỉ: 11 QL C, xã A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, theo Giấy ủy quyền số 3935/GUQ-STNMT ngày 03/8/2024.
(Tất cả đương sự có mặt tại phiên tòa; Bà Nguyễn Thị H và đại diện Sở TN&MT là Nguyễn Hoàng H1 có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn Lê Văn T ủy quyền cho Lê Ngọc P trình bày:
Ông Lê Văn T với bà Nguyễn Thị H là vợ chồng, sống chung từ năm 1972.
Năm 1982 vợ chồng ông Lê Văn T nhận chuyển nhượng đất của ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị Đ 12 công đất ruộng (tầm 2.8m), đất tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, năm 1994 được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân ông Lê Văn T, đến năm 2020 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho hộ ông T, do điều chỉnh, tách thửa phần đất này thành 07 thửa đất gồm:
- Thửa đất số 778, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.418,8m², đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông là Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H đứng tên quyền sử dụng đất.
- Thửa đất số 1828, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.792,8m², đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H đứng tên quyền sử dụng đất.
- Thửa đất số 1829, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.794,7m², đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông là Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H đứng tên quyền sử dụng đất.
- Thửa đất số 1830, tờ bản đồ số 24, diện tích 2.619m², đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông là Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H đứng tên quyền sử dụng đất.
- Thửa đất số 15, tờ bản đồ số 38, diện tích 538,8m², đất ở tại nông thôn, đất tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông là Lê Văn T đứng tên quyền sử dụng đất.
- Thửa đất số 16, tờ bản đồ số 38, diện tích 741.9m², đất ONT+ CLN, đất tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp hộ ông là Lê Văn T đứng tên quyền sử dụng đất.
- Thửa đất số 17, tờ bản đồ số 38, diện tích 995,8m², đất ONT+ CLN, đất tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông là Lê Văn T đứng tên quyền sử dụng đất.
07 thửa đất nêu trên là do vợ chồng ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H tạo lập mà có, các con của ông T không có đóng góp tạo lập để hình thành tài sản này.
Ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết quyền sử dụng đất của 07 thửa đất là tài sản của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H:
- Thửa đất số 778(1), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 1.418,8m², theo đo đạc thực tế là 1.396,1 m² từ mốc M1 đến M2, M3, M4 về mốc M1;
- Thửa đất số 1828(2), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 1.792,8 m², theo đo đạc thực tế là 1.799,4 m² từ mốc M5 đến M6, M7, M15, M14 về mốc M5;
- Thửa đất số 1829(3), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 1794,7 m², theo đo đạc thực tế là 1.781,8 m² từ mốc M13 đến M14, M15, M12 về mốc M13;
- Thửa đất số 1830(4), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 2.619 m², theo đo đạc thực tế là 2.619,5 m² từ mốc M7 đến M8, M9, M10, M11, M12, M15 về mốc M7; Theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 82-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ được đo vẽ ngày 08/05/2024, đất tọa lạc tại xã P, đất do ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H đứng tên quyền sử dụng đất.
- Thửa đất số 16(1), tờ bản đồ số 38, mục đích sử dụng đất ONT+CLN, diện tích theo GCNQSDĐ là 741,9 m², theo đo đạc thực tế là 750,2m² từ mốc M1 đến M2, M3, M4, M14, M13 về mốc M1;
- Thửa đất số 17(2), tờ bản đồ số 38, mục đích sử dụng đất ONT+CLN, diện tích theo GCNQSDĐ là 995,8 m², theo đo đạc thực tế là 998,4 m² từ mốc M12 đến M13, M14, M15, M7, M8, M9, M10, M11 về mốc M12;
- Thửa đất số 15(3), tờ bản đồ số 38, mục đích sử dụng đất ONT, diện tích theo GCNQSDĐ là 538,8 m², theo đo đạc thực tế là 539,6m² từ mốc M4 đến M5, M6, M7, M15, M14 về mốc M4; Theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 81-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ được đo vẽ ngày 08/05/2024, đất tọa lạc tại xã P, đất do ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H đứng tên quyền sử dụng đất.
Cây trồng vật kiến trúc có trên đất nguyên đơn không tranh chấp.
Nguyên đơn thống nhất Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung; Biên bản định giá tài sản; Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 81-2024 và trích đo số: TĐ 82-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cùng ngày 08/05/2024.
Bản chính 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất đang tranh chấp hiện ông Lê Văn T đang giữ quản lý, không có cầm cố thế chấp cho ai.
* Theo Đơn khởi kiện và tài liệu có trong hồ sơ nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Ông Lê Văn T với bà Nguyễn Thị H là vợ chồng, sống chung từ năm 1972.
Năm 1982 vợ chồng ông Lê Văn T nhận chuyển nhượng đất của ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị Đ 12 công ruộng (tầm 2.8m), đất tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, năm 1994 được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân ông Lê Văn T, đến năm 2020 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho hộ ông T, điều chỉnh, tách thửa phần đất này thành 07 thửa đất.
Ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết quyền sử dụng đất của 07 thửa đất là tài sản của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H:
- Thửa đất số 778(1), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 1.418,8m², theo đo đạc thực tế là 1.396,1 m² từ mốc M1 đến M2, M3, M4 về mốc M1;
- Thửa đất số 1828(2), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 1.792,8 m², theo đo đạc thực tế là 1.799,4 m² từ mốc M5 đến M6, M7, M15, M14 về mốc M5;
- Thửa đất số 1829(3), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 1794,7 m², theo đo đạc thực tế là 1.781,8 m² từ mốc M13 đến M14, M15, M12 về mốc M13;
- Thửa đất số 1830(4), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 2.619 m², theo đo đạc thực tế là 2.619,5 m² từ mốc M7 đến M8, M9, M10, M11, M12, M15 về mốc M7; Theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 82-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ được đo vẽ ngày 08/05/2024, đất tọa lạc tại xã P, đất do ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H đứng tên quyền sử dụng đất.
- Thửa đất số 16(1), tờ bản đồ số 38, mục đích sử dụng đất ONT+CLN, diện tích theo GCNQSDĐ là 741,9 m², theo đo đạc thực tế là 750,2m² từ mốc M1 đến M2, M3, M4, M14, M13 về mốc M1;
- Thửa đất số 17(2), tờ bản đồ số 38, mục đích sử dụng đất ONT+CLN, diện tích theo GCNQSDĐ là 995,8 m², theo đo đạc thực tế là 998,4 m² từ mốc M12 đến M13, M14, M15, M7, M8, M9, M10, M11 về mốc M12;
- Thửa đất số 15(3), tờ bản đồ số 38, mục đích sử dụng đất ONT, diện tích theo GCNQSDĐ là 538,8 m², theo đo đạc thực tế là 539,6m² từ mốc M4 đến M5, M6, M7, M15, M14 về mốc M4; Theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 81-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ được đo vẽ ngày 08/05/2024, đất tọa lạc tại xã P, đất do ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H đứng tên quyền sử dụng đất.
Cây trồng vật kiến trúc có trên đất nguyên đơn không tranh chấp.
Nguyên đơn thống nhất Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung; Biên bản định giá tài sản; Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 81-2024 và trích đo số: TĐ 82-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cùng ngày 08/05/2024.
Bản chính 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất đang tranh chấp hiện ông Lê Văn T đang giữ quản lý, không có cầm cố thế chấp cho ai.
* Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa bị đơn Lê Thanh P1 trình bày:
Lê Thanh P1 là con ruột của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H. 07 thửa đất đang tranh chấp gồm:
- Thửa đất số 778, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.418,8m², đất chuyên trồng lúa nước;
- Thửa đất số 1828, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.792,8m², đất chuyên trồng lúa nước;
- Thửa đất số 1829, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.794,7m², đất chuyên trồng lúa nước;
- Thửa đất số 1830, tờ bản đồ số 24, diện tích 2.619m², đất chuyên trồng lúa nước;
- Thửa đất số 15, tờ bản đồ số 38, diện tích 538,8m², đất ở tại nông thôn;
- Thửa đất số 16, tờ bản đồ số 38, diện tích 741.9m², đất ONT+ CLN;
- Thửa đất số 17, tờ bản đồ số 38, diện tích 995,8m², đất ONT+ CLN.
07 thửa đất này tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông là Lê Văn T đứng tên quyền sử dụng đất, 07 thửa đất là tài sản do ông T, bà H tự tạo lập mà có, mua của ông C1, bà Đ vào khoảng năm 1982, ông P1 không có đóng góp để tạo lập khối tài sản này.
Ông Lê Thanh P1 yêu cầu được quyền sử dụng phần đất diện tích ngang 5,66m x 50m = 283m², mục đích sử dụng đất ONT + CLN, thuộc một phần thửa đất số 17, tờ bản đồ số 38 đất tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Ngoài ra không yêu cầu tranh chấp gì thêm khác. Đối với đơn yêu cầu phản tố thì Lê Thanh P1 đã làm rồi nhưng không nộp cho Tòa án, đồng thời Lê Thanh P1 đã nhận Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí nhưng không nộp tiền tạm ứng án phí, lý do Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu của Lê Thanh P1 được quyền sử dụng đất diện tích 283m², mục đích sử dụng đất ONT + CLN, thuộc một phần thửa đất số 17, tờ bản đồ số 38 đất tọa lạc tại xã P thì ông P1 mới nộp tiền, còn hiện nay thì Lê Thanh P1 không biết Hội đồng xét xử có chấp nhận yêu cầu của ông P1 hay không nên ông P1 không nộp đơn yêu cầu và cũng không nộp tiền tạm ứng án phí.
Cây trồng vật kiến trúc có trên đất bị đơn Lê Thanh P1 không tranh chấp.
Bị đơn thống nhất Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung; Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 81-2024 và trích đo số: TĐ 82-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cùng ngày 08/05/2024.
* Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa bị đơn Lê Thị Cẩm L trình bày:
Lê Thị Cẩm L là con ruột của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H. 07 thửa đất đang tranh chấp gồm:
- Thửa đất số 778, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.418,8m², đất chuyên trồng lúa nước;
- Thửa đất số 1828, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.792,8m², đất chuyên trồng lúa nước;
- Thửa đất số 1829, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.794,7m², đất chuyên trồng lúa nước;
- Thửa đất số 1830, tờ bản đồ số 24, diện tích 2.619m², đất chuyên trồng lúa nước;
- Thửa đất số 15, tờ bản đồ số 38, diện tích 538,8m², đất ở tại nông thôn;
- Thửa đất số 16, tờ bản đồ số 38, diện tích 741.9m², đất ONT+ CLN;
- Thửa đất số 17, tờ bản đồ số 38, diện tích 995,8m², đất ONT+ CLN.
07 thửa đất này tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông là Lê Văn T đứng tên quyền sử dụng đất, 07 thửa đất là tài sản do ông T, bà H tự tạo lập mà có, mua của ông C1, bà Đ vào khoảng năm 1982, Lê Thị Cẩm L không có đóng góp để tạo lập khối tài sản này.
Lê Thị Cẩm L không có yêu cầu tranh chấp gì đối với 07 thửa đất đang tranh chấp trong vụ án này, không yêu cầu gì trong vụ án này.
Bị đơn thống nhất Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung; Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 81-2024 và trích đo số: TĐ 82-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cùng ngày 08/05/2024.
* Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa bị đơn Lê Thị Xuân K trình bày:
Lê Thị Xuân K là con ruột của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H. 07 thửa đất đang tranh chấp gồm:
- Thửa đất số 778, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.418,8m², đất chuyên trồng lúa nước;
- Thửa đất số 1828, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.792,8m², đất chuyên trồng lúa nước;
- Thửa đất số 1829, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.794,7m², đất chuyên trồng lúa nước;
- Thửa đất số 1830, tờ bản đồ số 24, diện tích 2.619m², đất chuyên trồng lúa nước;
- Thửa đất số 15, tờ bản đồ số 38, diện tích 538,8m², đất ở tại nông thôn;
- Thửa đất số 16, tờ bản đồ số 38, diện tích 741.9m², đất ONT+ CLN;
- Thửa đất số 17, tờ bản đồ số 38, diện tích 995,8m², đất ONT+ CLN.
07 thửa đất này tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông là Lê Văn T đứng tên quyền sử dụng đất, 07 thửa đất là tài sản do ông T, bà H tự tạo lập mà có, mua của ông C1, bà Đ vào khoảng năm 1982, Lê Thị Xuân K không có đóng góp để tạo lập khối tài sản này.
Lê Thị Xuân K không có yêu cầu tranh chấp gì đối với 07 thửa đất đang tranh chấp trong vụ án này, không yêu cầu gì trong vụ án này.
Bị đơn thống nhất Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung; Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 81-2024 và trích đo số: TĐ 82-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cùng ngày 08/05/2024.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Phú D và Đặng Thị Thúy E, đồng thời là đại diện hợp pháp của Lê Ngọc N cùng trình bày:
Lê Phú D là con ruột của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H. 07 thửa đất đang tranh chấp gồm:
- Thửa đất số 778, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.418,8m², đất chuyên trồng lúa nước;
- Thửa đất số 1828, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.792,8m², đất chuyên trồng lúa nước;
- Thửa đất số 1829, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.794,7m², đất chuyên trồng lúa nước;
- Thửa đất số 1830, tờ bản đồ số 24, diện tích 2.619m², đất chuyên trồng lúa nước;
- Thửa đất số 15, tờ bản đồ số 38, diện tích 538,8m², đất ở tại nông thôn;
- Thửa đất số 16, tờ bản đồ số 38, diện tích 741.9m², đất ONT+ CLN;
- Thửa đất số 17, tờ bản đồ số 38, diện tích 995,8m², đất ONT+ CLN.
07 thửa đất này tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp do hộ ông là Lê Văn T đứng tên quyền sử dụng đất.
07 thửa đất này là tài sản do ông T, bà H tự tạo lập mà có, mua của ông C, bà Đ vào khoảng năm 1982, Lê Phú D không có đóng góp để tạo lập khối tài sản này. Lê Phú D với Đặng Thị Thúy E là vợ chồng có nhà ở trên đất, đất là của ông T, bà H, nên không có tranh chấp chấp gì trong này, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
Cây trồng vật kiến trúc có trên đất không tranh chấp.
Thống nhất Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung; Biên bản định giá tài sản; Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 81-2024 và trích đo số: TĐ 82-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cùng ngày 08/05/2024.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung phát biểu quan điểm:
- - Về phần thủ tục: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo trình tự tố tụng pháp luật.
- - Về phần nội dung: Về đường lối giải quyết vụ án, Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
- Án phí và chi phí xem xét thẩm định, định giá theo quy định của pháp luật. (Có bài phát biểu kèm theo lưu hồ sơ vụ án).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu yêu cầu giải quyết quyền sử dụng 07 thửa đất là của ông T, bà H, đây là vụ án tranh chấp dân sự về quyền về tài sản là quyền sử dụng đất. Phần đất tranh chấp tọa tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Nguyễn Thị H, đại diện sở TN&MT tỉnh Đ là Nguyễn Hoàng H1 có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết quyền sử dụng đất của 07 thửa đất là tài sản của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H gồm:
- Thửa đất số 778(1), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 1.418,8m², theo đo đạc thực tế là 1.396,1 m² từ mốc M1 đến M2, M3, M4 về mốc M1;
- Thửa đất số 1828(2), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 1.792,8 m², theo đo đạc thực tế là 1.799,4 m² từ mốc M5 đến M6, M7, M15, M14 về mốc M5;
- Thửa đất số 1829(3), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 1794,7 m², theo đo đạc thực tế là 1.781,8 m² từ mốc M13 đến M14, M15, M12 về mốc M13;
- Thửa đất số 1830(4), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 2.619 m², theo đo đạc thực tế là 2.619,5 m² từ mốc M7 đến M8, M9, M10, M11, M12, M15 về mốc M7; Theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 82-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ được đo vẽ ngày 08/05/2024, đất tọa lạc tại xã P, đất do ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H đứng tên quyền sử dụng đất.
- Thửa đất số 16(1), tờ bản đồ số 38, mục đích sử dụng đất ONT+CLN, diện tích theo GCNQSDĐ là 741,9 m², theo đo đạc thực tế là 750,2m² từ mốc M1 đến M2, M3, M4, M14, M13 về mốc M1;
- Thửa đất số 17(2), tờ bản đồ số 38, mục đích sử dụng đất ONT+CLN, diện tích theo GCNQSDĐ là 995,8 m², theo đo đạc thực tế là 998,4 m² từ mốc M12 đến M13, M14, M15, M7, M8, M9, M10, M11 về mốc M12;
- Thửa đất số 15(3), tờ bản đồ số 38, mục đích sử dụng đất ONT, diện tích theo GCNQSDĐ là 538,8 m², theo đo đạc thực tế là 539,6m² từ mốc M4 đến M5, M6, M7, M15, M14 về mốc M4; Theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 81-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ được đo vẽ ngày 08/05/2024, đất tọa lạc tại xã P, đất do ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H đứng tên quyền sử dụng đất.
Chứng cứ chứng minh là ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H cùng 04 người con là Lê Thanh P1, Lê Thị Cẩm L, Lê Thị Xuân K, Lê Phú D đều thống nhất thừa nhận 07 thửa đất số 778, 1828, 1829, 1830, cùng tờ bản đồ số 24, thửa đất số 15, 16, 17, cùng tờ bản đồ số 38 là do ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H tự tạo lập mà có vào khoảng năm 1982, 04 người con là Lê Thanh P1, Lê Thị Cẩm L, Lê Thị Xuân K, Lê Phú D vào thời gian này còn nhỏ, không có công sức đóng góp vào khối tài sản này; Theo Công văn số 169/UBND-TNMT ngày 26/7/2024 của UBND huyện L trả lời năm 1994 UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân ông Lê Văn T.
Ông Lê Thanh P1 thừa nhận 07 thửa đất số 778, 1828, 1829, 1830, cùng tờ bản đồ số 24, thửa đất số 15, 16, 17, cùng tờ bản đồ số 38 là do ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H tự tạo lập mà có vào khoảng năm 1982, ông P1 không có đóng góp tạo lập tài sản này nhưng ông Lê Thanh P1 có yêu cầu chia cho ông Lê Thanh P1 quyền sử dụng phần đất diện tích ngang 5,66m x 50m = 283m², mục đích sử dụng đất ONT + CLN, thuộc một phần thửa đất số 17, tờ bản đồ số 38 đất tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Trong quá trình giải quyết vụ án đã giải thích rõ quy định pháp luật và tại phiên Tòa Hội đồng xét xử giải thích rõ về quyền yêu cầu phản tố và trình tự thủ tục quy định của pháp luật để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết, ông Lê Thanh P1 trình bày Lê Thanh P1 đã làm đơn yêu cầu phản tố rồi nhưng không nộp cho Tòa án, không nộp tiền tạm ứng án phí, lý do Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu của Lê Thanh P1 được quyền sử dụng đất diện tích 283m², mục đích sử dụng đất ONT + CLN, thuộc một phần thửa đất số 17, tờ bản đồ số 38 đất tọa lạc tại xã P thì ông P1 mới nộp tiền, còn hiện nay thì Lê Thanh P1 không biết Hội đồng xét xử có chấp nhận yêu cầu của ông P1 hay không nên ông P1 không nộp đơn yêu cầu và cũng không nộp tiền tạm ứng án phí. Ông Lê Thanh P1 không nộp đơn yêu cầu phản tố, không nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định và không cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của ông P1 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Lê Thị Cẩm L, Lê Thị Xuân K, Lê Phú D, Đặng Thị Thúy E thống nhất 07 thửa đất số 778, 1828, 1829, 1830, cùng tờ bản đồ số 24, thửa đất số 15, 16, 17, cùng tờ bản đồ số 38 là tài sản của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H. Lê Thị Cẩm L, Lê Thị Xuân K, Lê Phú D, Đặng Thị Thúy E không có yêu cầu tranh chấp gì trong vụ án này nên.
Xét thấy tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, tất cả các đương sự trong vụ án là ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H cùng 04 người con là Lê Thanh P1, Lê Thị Cẩm L, Lê Thị Xuân K, Lê Phú D đều thống nhất thừa nhận 07 thửa đất số 778, 1828, 1829, 1830, cùng tờ bản đồ số 24, thửa đất số 15, 16, 17, cùng tờ bản đồ số 38 là do ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H tự tạo lập mà có vào khoảng năm 1982, 04 người con là Lê Thanh P1, Lê Thị Cẩm L, Lê Thị Xuân K, Lê Phú D vào thời gian này còn nhỏ, không có công sức đóng góp vào khối tài sản này đồng thời theo Công văn số 169/UBND-TNMT ngày 26/7/2024 của UBND huyện L trả lời năm 1994 UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân ông Lê Văn T. Cho nên yêu cầu của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
Từ những nhận định và phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu Tòa án giải quyết quyền sử dụng đất của 07 thửa đất là tài sản của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H gồm: 1. Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu Tòa án giải quyết quyền sử dụng đất của 07 thửa đất là tài sản của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H gồm có:
- Thửa đất số 778(1), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 1.418,8m², theo đo đạc thực tế là 1.396,1 m² từ mốc M1 đến M2, M3, M4 về mốc M1;
- Thửa đất số 1828(2), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 1.792,8 m², theo đo đạc thực tế là 1.799,4 m² từ mốc M5 đến M6, M7, M15, M14 về mốc M5;
- Thửa đất số 1829(3), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 1794,7 m², theo đo đạc thực tế là 1.781,8 m² từ mốc M13 đến M14, M15, M12 về mốc M13;
- Thửa đất số 1830(4), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 2.619 m², theo đo đạc thực tế là 2.619,5 m² từ mốc M7 đến M8, M9, M10, M11, M12, M15 về mốc M7; Theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 82-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ được đo vẽ ngày 08/05/2024, đất tọa lạc tại xã P;
- Thửa đất số 16(1), tờ bản đồ số 38, mục đích sử dụng đất ONT+CLN, diện tích theo GCNQSDĐ là 741,9 m², theo đo đạc thực tế là 750,2m² từ mốc M1 đến M2, M3, M4, M14, M13 về mốc M1;
- Thửa đất số 17(2), tờ bản đồ số 38, mục đích sử dụng đất ONT+CLN, diện tích theo GCNQSDĐ là 995,8 m², theo đo đạc thực tế là 998,4 m² từ mốc M12 đến M13, M14, M15, M7, M8, M9, M10, M11 về mốc M12;
- Thửa đất số 15(3), tờ bản đồ số 38, mục đích sử dụng đất ONT, diện tích theo GCNQSDĐ là 538,8 m², theo đo đạc thực tế là 539,6m² từ mốc M4 đến M5, M6, M7, M15, M14 về mốc M4; Theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 81-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ được đo vẽ ngày 08/05/2024, đất tọa lạc tại xã P.
[3] Xét thấy ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[5] Về án phí và tiền lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Do yêu cầu của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H có yêu cầu về quyền tài sản là quyền sử dụng đất và được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần được hưởng nhưng ông T, bà H có đơn xin miễn tạm ứng án phí và án phí theo quy định pháp luật nên ông T và bà H không phải nộp án phí là phù hợp với điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
T1 lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 27.616.101 đồng ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H tự nguyện chịu (đã nộp và chi xong).
[6] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2, 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, 2 và khoản 4 Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 155, Điều 156; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 212, Điều 213, Điều 218, Điều 219 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 98, Điều 100; Điều 203 của Luật đất đai; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu Tòa án giải quyết quyền sử dụng đất của 07 thửa đất là tài sản của ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H gồm có:
- Thửa đất số 778(1), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 1.418,8m², theo đo đạc thực tế là 1.396,1 m² từ mốc M1 đến M2, M3, M4 về mốc M1;
- Thửa đất số 1828(2), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 1.792,8 m², theo đo đạc thực tế là 1.799,4 m² từ mốc M5 đến M6, M7, M15, M14 về mốc M5;
- Thửa đất số 1829(3), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 1794,7 m², theo đo đạc thực tế là 1.781,8 m² từ mốc M13 đến M14, M15, M12 về mốc M13;
- Thửa đất số 1830(4), tờ bản đồ số 24, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, diện tích theo GCNQSDĐ là 2.619 m², theo đo đạc thực tế là 2.619,5 m² từ mốc M7 đến M8, M9, M10, M11, M12, M15 về mốc M7; Theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 82-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ được đo vẽ ngày 08/05/2024, đất tọa lạc tại xã P;
- Thửa đất số 16(1), tờ bản đồ số 38, mục đích sử dụng đất ONT+CLN, diện tích theo GCNQSDĐ là 741,9 m², theo đo đạc thực tế là 750,2m² từ mốc M1 đến M2, M3, M4, M14, M13 về mốc M1;
- Thửa đất số 17(2), tờ bản đồ số 38, mục đích sử dụng đất ONT+CLN, diện tích theo GCNQSDĐ là 995,8 m², theo đo đạc thực tế là 998,4 m² từ mốc M12 đến M13, M14, M15, M7, M8, M9, M10, M11 về mốc M12;
- Thửa đất số 15(3), tờ bản đồ số 38, mục đích sử dụng đất ONT, diện tích theo GCNQSDĐ là 538,8 m², theo đo đạc thực tế là 539,6m² từ mốc M4 đến M5, M6, M7, M15, M14 về mốc M4; Theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 81-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ được đo vẽ ngày 08/05/2024, đất tọa lạc tại xã P.
Vị trí, hiện trạng, tứ cận, số đo của các thửa đất số 778 (1), 1828 (2), 1829 (3), 1830 (4), cùng tờ bản đồ số 24, thửa đất số 15 (3), 16 (1), 17 (2), cùng tờ bản đồ số 38, đất tọa lạc tại xã P được thể hiện theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung; Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp, trích đo số: TĐ 81-2024 và trích đo số: TĐ 82-2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cùng ngày 08/05/2024.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật các đương sự phải có trách nhiệm liên hệ cơ quan nước có thẩm quyền kê khai, đăng ký, điều chỉnh cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của đương sự để điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã tuyên.
2. Về án phí, tạm ứng án phí và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
Ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H được miễn tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định pháp luật.
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H tự nguyện chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc, định giá là 27.616.101 đồng, ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H đã nộp và chi xong.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/9/2024). Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Bích Huyền |
Bản án số 76/2024/DS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về chia tài sản chung trong hộ gia đình
- Số bản án: 76/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về chia tài sản chung trong hộ gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp dân sự về chia tài sản chung trong hộ gia đình
