|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11/8/2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đào Quang Tuấn
- Bà Quách Thị Tình
Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H; Sinh năm: 1994
HKTT: Thôn Q, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
Địa chỉ hiện nay: Xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B; Sinh năm: 1992
HKTT và địa chỉ hiện nay: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 20/3/2023 và bản tự khai cũng như quá trình giải quyết vụ án, chị Bùi Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn B kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 09/3/2006 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày cưới, vợ chồng hòa thuận đến năm 2017 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng cung quan điểm sống nên thường xuyên sảy ra cãi cọ và đã có lần dẫn đến đánh đập, cuộc sống không hạnh phúc. Hiện tại, chị đã về nhà bố mẹ đẻ hơn 01 năm nay và vợ chồng đã sống ly thân từ đó, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh B.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 26/3/2017 và Nguyễn Gia H1, sinh ngày 19/12/2020. Ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1 và giao cháu H cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 03/7/2023, bị đơn anh Nguyễn Văn B trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Bùi Thị H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ngày 09/3/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận bình thường. Đôi lúc vợ chồng có sảy ra cãi cọ nhưng đây chỉ là những mâu thuẫn nhỏ mà vợ chồng nào cũng gặp phải. Nay chị H yêu cầu ly hôn với anh, anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn. Mặt khác, anh không muốn con cái phải thiếu thốn tình cảm của bố mẹ nên anh không đồng ý ly hôn với chị H mà mong muốn vợ chồng được đoàn tụ. Nếu chị H nhất quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 26/3/2017 và Nguyễn Gia H1, sinh ngày 19/12/2020. Nếu chị H nhất quyết yêu cầu ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, giao cháu H1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn B; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 19/12/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh B trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 26/3/2017, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
- Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên và trong quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng nhưng VKS được biết.
- Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng anh B xin vắng mặt nên tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh B theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS.
- Chị H và anh B đều có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 BLTTDS.
- Tại phiên tòa, chị H và anh B vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt chị H và anh B.
- Về hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn B kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 09/3/2006 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận đến năm 2017 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên sảy ra cãi cọ, cuộc sống không hạnh phúc. Hiện tại, chị Huệ và anh B đã sống ly thân hơn 01 năm nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Việc này đã được các cấp chính quyền xã T xác nhận và cũng phù hợp với nội dung mà Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương. Mặc dù anh B mong muốn được đoàn tụ nhưng chị H nhất quyết xin ly hôn anh B. HĐXX nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn B.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung. Ly hôn, cả chị H và anh B đều yêu cầu giao cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 19/12/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh B trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 26/3/2017. Do đó, nên chấp nhận yêu cầu của chị H và anh B.
- Về tài sản: Chị H và anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
- Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn B.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 19/12/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh B trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 26/3/2017, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
- Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí DSST là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên lai số AA/2021/0008056 ngày 24/5/2023. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.
Chị H và anh B có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn B. Chị H và anh B có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cúc |
Bản án số 76/2023/HNGĐ-ST ngày 11/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 76/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn
