Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày 10/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Nhường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lãnh Văn Việt.
  2. Ông Phạm Văn Chữ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Nam, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 76/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 18/TB-TA ngày 6/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tô Văn Đ; sinh năm 1989; nơi thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; dân tộc: Cao lan; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 4/12; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; có bố là Tô Văn T, sinh năm 1952 và mẹ là: Hà Thị T1, sinh năm 1952; anh, chị em ruột: Có 7 anh, chị, em; bị cáo là thứ năm; vợ: Tơ Thị C, sinh năm 1987; von: Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012.

Nhân thân:

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 102 ngày 16/5/2024, Công an huyện L xử phạt đối với Tô Văn Đ về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Tiền án: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. (Có mặt tại phiên toà).

- Bị hại: Anh Đàm Văn Q, sinh năm 1986. Có mặt

Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Mai Thị L, sinh năm 1969. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  3. Chị Tơ Thị C, sinh năm 1987 .Vắng mặt.
  4. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 01/4/2024, Đ mang theo 01 chìa khoá xe máy cũ do Đ nhặt được từ trước đó đi bộ từ nhà mình đến thôn C với mục đích xem dọc đường có ai để xe mô tô sơ hở thì trộm cắp lấy tiền chi tiêu cá nhân. Cũng trong khoảng thời gian này, anh Đàm Văn Q, sinh năm 1986, trú tại thôn C, xã Đ, huyện L điều khiển xe mô tô HONDA Wave a, màu trắng, biển số 98E1-632.32, trên xe có 01 giá thồ hàng bằng sắt đến đập Khe Kìm thuộc thôn C, xã Đ, huyện L rồi để xe ở đây, anh Q rút chìa khóa xe mang theo, sau đó đi bộ lên thăm rừng. Khi Đ đi bộ đến đường bê tông đập Khe Kìm thuộc thôn C, xã Đ thì thấy xe mô tô biển số 98E1-632.32 của anh Q đang dựng ở đây, quan sát xung quanh không thấy ai trông coi nên Đ đã tiếp cận chiếc xe mô tô, dùng chìa khoá xe cũ mà Đ mang theo sẵn trên người cắm vào ổ khoá xe mở thử thì thấy mở được. Sau đó Đ điều khiển xe đến quán cầm đồ của bà Mai Thị L, sinh năm 1969, trú tại thôn P, xã B, huyện L. Đào thoả thuận với bà L để lại chiếc xe mô tô trên cùng giá thồ hàng cho bà L để lấy số tiền 1.500.000 đồng, hẹn mấy ngày sau lấy lại, Đ không nói cho bà L biết chiếc xe trên là tài sản trộm cắp mà có. Bà L đồng ý và đưa cho Đ 1.500.000đ. Đ cầm số tiền trên đi về và chi tiêu cá nhân hết. Khoảng 10 giờ cùng ngày anh Q phát hiện bị mất chiếc xe mô tô trên. Đến ngày 04/4/2024, anh Q làm đơn trình báo đến Công an xã Đ đề nghị giải quyết. Cùng ngày, bà Mai Thị L đã giao nộp cho Công an xã Đ 01 xe mô tô biển số 98E1-632.32 cùng 01 giá thồ hàng theo xe và 01 chìa khoá xe mô tô.

Ngày 04/4/2024, Tô Văn Đ đến Công an xã Đ đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân, Công an xã Đ đã tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma tuý đối với Tô Văn Đ, kết quả Đ dương tính với ma tuý. Cùng ngày Công an xã Đ đã chuyển tài liệu, đồ vật, đối tượng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 05/4/2024, Cơ quan điều tra đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với tài sản bị trộm cắp. Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 05/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 chiếc xe mô tô HONDA Wave a biển số 98E1-632.32 trị giá 13.000.000đ; 01 giá thồ hàng bằng sắt trị giá 200.000đ.

Quá trình giải quyết vụ án anh Q đã trả cho bà L số tiền 1.500.000đ; chị Tơ Thị C, sinh năm 1987, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang là vợ của Tô Văn Đ đã bồi thường cho anh Q số tiền 1.500.000đ. Anh Q đã nhận đủ và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tô Văn Đ khai ma tuý Đ sử dụng là do Đ mua của người không quen biết ở xã B nhưng không biết địa điểm cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ cứ xử lý. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Đ, ngày 16/5/2024, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tô Văn Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Mai Thị L khi nhận cầm cố chiếc xe mô tô biển số 98E1-632.32 nhưng không biết là tài sản trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với bà L.

Về vật chứng: Ngày 10/5/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Ngày 13/5/2024, anh Q đã nhận lại 01 xe mô tô HONDA Wave a biển số 98E1-632.32; 01 giá thồ hàng. Đối với vật chứng là 01 chìa khoá xe mô tô của Đ dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội chuyển xử lý theo vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án anh Đàm Văn Q đã trả cho bà L số tiền 1.500.000 đồng; chị Tơ Thị C, sinh năm 1987, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang là vợ của Tô Văn Đ đã bồi thường cho anh Q số tiền 1.500.000 đồng. Anh Đàm Văn Q đã nhận đủ và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số: 82/CT-VKS ngày 24 tháng 5 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã truy tố bị cáo Tô Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Tô Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Kết luận điều tra và bản Cáo trạng đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Chủ toạ phiên toà thay mặt Hội đồng xét xử công bố lời khai có trong hồ sơ vụ án của những người này và công bố bản kết luận định giá tài sản. Bị cáo Tô Văn Đ, anh Đàm Văn Q không có ý kiến gì về lời khai của những người này và bản kết luận định giá tài sản.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Tô Văn Đ và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  2. Xử phạt bị cáo Tô Văn Đ từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 05/4/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chìa khóa xe đã qua sử dụng.
  5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn cho bị cáo Tô Văn Đ không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được thông báo, tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt. Những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến vụ án. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[3] Tại phiên toà bị cáo Tô Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tang vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã đủ cơ sở để kết luận bị cáo Tô Văn Đ trong sáng ngày 01/4/2024, tại đập Khe Kìm thuộc thôn C, xã Đ, huyện L, Tô Văn Đ có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô HONDA Wave a biển số 98E1-632.32 và 01 giá thồ hàng có tổng trị giá 13.200.000đ của anh Đàm Văn Q.

[4] Xét lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai báo của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản xác định hiện trường, bản ảnh hiện trường, bản ảnh nhận dạng tài sản, vật chứng của vụ án, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng cho người dân trong việc quản lý tài sản. Bị cáo là người có đầy đủ nhận thức pháp luật, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản đã lén lút thực hiện hành vi phạm tội của mình. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm này nói chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Xét nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo Tô Văn Đ là người có nhân thân xấu đã từng 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý".

[7] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động gia đình là vợ bị cáo bồi thường số tiền 1.500.000 đồng cho bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[9] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ điều kiện để cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nên cần được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, thuộc diện hộ nghèo, là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Anh Đàm Văn Q đã nhận lại tài sản và bà Mai Thị L đã nhận lại số tiền là 1.500.000 đồng nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[12] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) chìa khóa xe đã qua sử dụng là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[13] Đối với bà Mai Thị L khi nhận cầm cố chiếc xe mô tô biển số 98E1-632.32 nhưng không biết là tài sản trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với bà L là có căn cứ.

[14] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần miễn án phí hình sự sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[15] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  2. - Xử phạt bị cáo Tô Văn Đ 01 (một) năm 01 (một) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 05/4/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình.
  4. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chìa khóa xe đã qua sử dụng.

  5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  6. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tô Văn Đ.

  7. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Đèo Gia, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Đức Nhường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sdf
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger