TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2024/DS-ST
Ngày: 09-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Văn Hiểu.
2/ Bà Nguyễn Thị Bé Ngoan.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2024/TLST- DS ngày 03 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S.
Địa chỉ trụ sở: đường N, phường V, quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc. Là đại diện theo pháp luật.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần D – Chức vụ: Phó Phòng Giao dịch Trà Ôn – Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S – Chi nhánh Vĩnh Long. Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 14/2024/UQ-PGDTO ngày 11/3/2024). “có mặt”
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1979. “vắng mặt”
Địa chỉ: ấp M, xã T, huyện T1, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 11/3/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S trình bày: Vào ngày 10/01/2023 giữa Ngân hàng có ký với anh Nguyễn Văn D hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2301000900, với nội dung cụ thể: Số tiền vay: 150.000.000đ; Lãi suất: 12,3%/năm; Thời điểm trả hết nợ: 10/01/2028 (60 tháng); Mục đích vay: Phục vụ đời sống; Biện pháp bảo đảm: Cho vay không tài sản bảo đảm; Phương thức trả nợ: Vốn, lãi trả định kỳ hàng tháng, lãi tính theo dư nợ ban đầu. Trong quá trình vay, anh D thanh toán cho Ngân hàng được tổng số tiền 20.187.500đ (gốc 12.500.000đ, lãi 7.687.500₫). Tính đến ngày 08/3/2024 anh D còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 153.155.541đ, trong đó nợ gốc là 137.500.000₫ và lãi là 15.201.031đ. Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần liên hệ với anh D và gia đình để tìm hướng giải quyết nhưng anh D và gia đình cố tình không hợp tác. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh D có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vay còn nợ tính đến ngày 08/3/2024 là 153.155.541đ, trong đó nợ gốc là 137.500.000₫ và lãi là 15.201.031đ. Đồng thời yêu cầu anh D phải chịu lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2301000900 ngày 10/01/2023 kể từ ngày 09/3/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Văn D tham gia tố tụng để giải quyết vụ án nhưng anh D vắng mặt không lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa: Đại diện cho Ngân hàng yêu cầu anh Nguyễn Văn D có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vay còn nợ tính đến ngày 09/9/2024 là 163.775.664đ (Trong đó dư nợ vay 137.500.000đ, lãi là 26.275.664đ). Đồng thời yêu cầu anh D phải chịu lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2301000900 ngày 10/01/2023 kể từ ngày 10/9/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng.
Các chứng cứ mà các bên giao nộp đã được tiếp cận, công khai chứng cứ. Các bên không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S khởi kiện yêu cầu bị đơn anh Nguyễn Văn D có địa chỉ cư trú ấp M, xã T, huyện T1, tỉnh Vĩnh Long trả lại số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2301000900 ngày 10/01/2023 cho Ngân hàng. Do đó quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
[1.2] Bị đơn anh Nguyễn Văn D được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do mà không có người đại diện tham gia phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Vào ngày 10/01/2023 giữa Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S có ký với anh Nguyễn Văn D hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2301000900, với nội dung cụ thể: Số tiền vay: 150.000.000đ; Lãi suất: 12,3%/năm; Thời điểm trả hết nợ: 10/01/2028 (60 tháng); Mục đích vay: Phục vụ đời sống; Biện pháp bảo đảm: Cho vay không tài sản bảo đảm; Phương thức trả nợ: Vốn, lãi trả định kỳ hàng tháng, lãi tính theo dư nợ ban đầu. Trong quá trình vay, anh D thanh toán cho Ngân hàng được tổng số tiền 20.187.500đ (gốc 12.500.000đ, lãi 7.687.500đ). Tính đến ngày 08/3/2024 anh D còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 153.155.541đ, trong đó nợ gốc là 137.500.000đ và lãi là 15.201.031đ. Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần liên hệ với anh D và gia đình để tìm hướng giải quyết nhưng anh D và gia đình cố tình không hợp tác. Anh D cũng không có ý kiến phản đối những tình tiết, tài liệu do nguyên đơn cung cấp. Nên xem hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S và anh D là sự việc có thật, không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn anh D có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 09/9/2024 tổng cộng là 163.775.664₫ (Trong đó gồm dư nợ vay là 137.500.000₫, lãi là 26.275.664đ). Đồng thời yêu cầu anh D phải chịu lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2301000900 ngày 10/01/2023 kể từ ngày 10/9/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, giữa Ngân hàng và anh D có ký kết hợp đồng cụ thể, quy định rõ số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất, thời điểm trả hết nợ và phương thức trả nợ nhưng do anh D vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện là có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc anh D có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày tính đến 09/9/2024 tổng cộng là 163.775.664₫ (Trong đó gồm dư nợ vay là 137.500.000đ, lãi là 26.275.664đ). Đồng thời anh D có nghĩa vụ trả lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2301000900 ngày 10/01/2023 kể từ ngày 10/9/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng là phù hợp các 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng.
[2.3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể buộc anh D phải nộp 163.775.664₫ x 5% = 8.188.783₫.
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S không phải chịu án phí do yêu cầu được chấp nhận, nên hoàn trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.829.000đ (Ba triệu tám trăm hai mươi chín ngàn đồng) theo biên lai thu số 0011224 ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 đã được sửa dổi, bổ sung một số điều theo Luật số 17/2017/QH14;
Căn cứ Điều 6, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S.
Buộc bị đơn anh Nguyễn Văn D có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S số tiền vay còn nợ tính đến ngày 09/9/2024 tổng cộng là 163.775.664đ (Một trăm sáu mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi lăm ngàn sáu trăm sáu mươi bốn đồng). Trong đó gồm: dư nợ vay 137.500.000đ, lãi là 26.275.664₫. Anh Nguyễn Văn D có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: LD2301000900 ngày 10/01/2023 kể từ ngày 10/9/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc anh Nguyễn Văn D có nghĩa vụ nộp 8.188.783đ (Tám triệu một trăm tám mươi tám ngàn bảy trăm tám mươi ba đồng).
Hoàn trả Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.829.000₫ (Ba triệu tám trăm hai mươi chín ngàn đồng) theo biên lai thu số 0011224 ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự văng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thúy An |
Bản án số 76/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 76/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S và Nguyễn Văn D
