TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 76/2024/HS-ST Ngày 09 tháng 8 năm 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Đô;
2. Ông Bùi Thế Hanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Đông - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hà Văn N; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1998;
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Chức vụ: Không; Trình độ văn hóa: 12/12;
Con ông Hà Huy H, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1979;
Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Nguyễn Thị B; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1979;
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Chức vụ: Không; Trình độ văn háo: 9/12;
Con ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1951 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1953; Chồng: Hà Huy H, sinh năm 1976 (đã ly hôn năm 2021).
Bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2001).
Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Ông Đinh Xuân C, sinh năm 1942 (Đã chết)
Địa chỉ: TDP D, thị trấn T, huyện H - Bắc Giang.
* Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
- Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1947 (vắng mặt tại phiên tòa).
- Chị Đinh Thị Kim O, sinh năm 1968; (có mặt tại phiên tòa).
- Anh Đinh Xuân M, sinh năm 1970; (có mặt tại phiên tòa).
- Anh Đinh Xuân T1, sinh năm 1973; (có mặt tại phiên tòa).
Đều trú tại: TDP D, thị trấn T - H - Bắc Giang.
Người đại diện cho bà D, chị O và anh M là: Anh Đinh Xuân T1, sinh năm 1973; Địa chỉ: TDP D, thị trấn T - H - Bắc Giang (có mặt tại phiên tòa).
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hà Huy H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 9/2023, Hà Văn N, sinh năm 1998, trú tại Tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (N chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định) bắt đầu đi làm tại Công ty F thuộc thị xã V, tỉnh Bắc Giang đã hỏi mượn của mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1979 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát 20H1- 160.67, dung tích 113cm3 để làm phương tiện sử dụng đi làm hàng ngày. Thời điểm này, mặc dù B biết rõ N chưa có giấy phép lái xe, chưa đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông theo quy định nhưng B vẫn đồng ý và giao chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20H1- 160.67, dung tích 113cm3 cho N sử dụng đồng thời thường xuyên dặn N điều khiển xe mô tô cho cẩn thận để tránh hậu quả cho cả mẹ và con.
Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 19/12/2023, sau khi tan ca làm tại Công ty, N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20H1- 160.67 đi từ Công ty lên thị trấn T, huyện H rồi điều khiển xe đi trên đường tỉnh lộ 295 hướng thị trấn T đi cầu Đ. Khi đến địa phận Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, lúc này khoảng hơn 18 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô đi ở khu vực giữa đường thuộc phần đường bên phải theo hướng di chuyển. Thời điểm này, ông Đinh Xuân C, sinh năm 1942, trú tại Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H đang đi bộ di chuyển từ phần đường bên trái sang phần đường bên phải ở phía trước theo hướng di chuyển của N để về nhà. Khi ông C đi bộ sang đến phần đường bên phải theo hướng di chuyển của N. Lúc này N mới phát hiện ra ông C nhưng do khoảng cách quá gần nên N chỉ kịp
đạp phanh chân xe mô tô để tránh ông C nhưng phần đầu xe mô tô do N điều khiển vẫn va chạm vào người ông C làm ông C bị ngã ra đường. Ông C được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ rồi chuyển đến Bệnh viện V điều trị từ ngày 19/12/2023 đến ngày 03/01/2024 thì tử vong.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng không cong cua, không có vật che khuất tầm nhìn. Mặt đường được trải thảm nhựa Asphalt rộng 11m, giữa đường có vạch kẻ sơn màu vàng đứt quãng chia lòng đường thành hai chiều xe chạy. Hai bên có cống thoát nước rộng 1,05m, vỉa hè rộng 04m. Lấy cột điện dân sinh nằm bên ngoài mép đường làm mốc định vị (cột điện dân sinh số 3.10/TBA khu dân cư Đ). Lấy mép đường bên phải hướng đi từ thị trấn T đi cầu Đ làm chuẩn.
Xe mô tô biển kiểm soát 20H1-160.67 ở trạng thái nằm đổ nghiêng bên trái. Đầu hướng chếch chéo vào mép đường phải, đuôi hướng chếch chéo vào mép đường trái. Khoảng cách từ trục bánh trước đến mép đường phải là 4,15m. Hệ thống vết cày xước mặt đường nhựa đứt quãng có kích thước (8,54x0,40)m có chiều hướng từ thị trấn T đi cầu Đ. Khoảng cách từ đầu vết cày xước đến mép đường phải là 3,30m, điểm cuối kết thúc tại để chân chính bên trái xe mô tô và cách mép đường phải là 3,75m. Mốc định vị cột điện dân sinh số 3.10/TBA khu dân cư Đức Thắng nằm bên ngoài mép đường phải. Khoảng cách từ mốc định vị đến trục bánh trước xe mô tô là 10,60m, đến trục bánh sau xe mô tô là 10, 60m; đến đầu vết cày xước là 5,80m.
* Kết quả dựng lại hiện trường xác định:
- Vị trí xe mô tô biển số 20H1-160.67, dấu vết cày xước mặt đường trên hiện trường vụ tai nạn giao thông phù hợp với việc mô tả trong khám nghiệm hiện trường của Đội Cảnh sát giao thông- trật tự Công an huyện.
- Mở rộng hiện trường, xác định: Tại khu vực hiện trường vụ tai nạn giao thông về hướng trung tâm thị trấn T tiệm cận gần nhất vị trí xảy ra tai nạn có gờ giảm tốc ngang đường và điểm dừng xe Bus đặt sát mép phải đường. Từ điểm đầu của hệ thống vết cày xước đến điểm gần nhất gờ giảm tốc là 8,16m. Điểm dừng xe bus có chiều dài 8,16m, rộng 2,10m, từ điểm gần nhất gờ giảm tốc đến điểm gần nhất vị trí điểm dừng xe bus là 3,32m. Từ vị trí tâm trục sau xe mô tô đến điểm gần nhất vị trí điểm dừng xe bus là 5,25m.
* Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 20H1-160.67, có số khung: Y026216, số máy: IFC1-026235, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu sơn: Đen- Đỏ, dung tích xi lanh 113cm3: Cần gương, bát gương của gương chiếu hậu bên phải bị gãy, tại vị trí chân gương rời khởi xe. Gương chiếu hậu bên trái: Cần gương có thể tịnh tiến xoay tròn, không còn bát gương. Đầu trên cần gương có dấu vết chà sát kim loại trên diện (1x0,5)cm. Đầu ngoài tay nắm bên trái có dấu vết chà sát kim loại, nhựa trên diện (3,2x4,5)cm. Cụm đèn pha bị bật
khỏi vị trí cố định; mặt dưới bị dập vỡ, khuyết nhựa trên diện (6,5x5)cm. Đầu trên cánh yếm ngoài bên phải bị vỡ khuyết nhựa trên diện (20x3)cm. Mặt ngoài cánh yếm ngoài bên trái có dấu vết chà sát sơn nhựa trên diện (42x12)cm. Đầu ngoài để chân chính bên trái có dấu vết chà sát kim loại đã han rỉ trên diện (1,5x1,5)cm. Đầu ngoài để chân phụ bên trái có dấu vết chà sát kim loại đã han rỉ trên diện (1x1)cm. Hệ thống phanh, còi, đèn hoạt động bình thường (BL 75-76).
* Kết quả khám nghiệm tử thi ông Đinh Xuân C:
Chiều dài tử thi: 1,58m, đang trong giai đoạn lạnh, cứng xác, hoen tử thi màu tím tập trung ở mặt sau cơ thể. Các dấu vết tổn thương trên cơ thể: Vùng đầu tóc bạc cắt ngắn, hai mắt khép kín đồng tử giãn to, bầm tím xung quanh hốc mắt phải, hai lỗ tai khô, hai lỗ mũi và khoang miệng có dịch đục. Vùng trán phải có diện sây sát da đã bong vẩy, tím da kích thước (7x2,5)cm. Cánh mũi phải có diện sây sát da đã đóng vẩy kích thước (3x1)cm. Chính giữa vùng cổ có vết đặt nội khí quản kích thước (1,5x1)cm, cách vết đó 02cm có vết sây sát da đã đóng vẩy kích thước (1,3x0,6)cm. Mặt ngoài khuỷu tay phải có diện tím da kích thước (2,2x1,5)cm. Mặt mu bàn tay phải có diện sây sát da đã đóng vẩy, tím da, kích thước (8x9)cm. Mặt mu bàn tay trái có diện sây sát da đã đóng vẩy kích thước (6x1,5)cm. Mặt trước gối phải có diện sây sát da đã bong vẩy, kích thước (8x4)cm. Sờ nắm thấy gãy kín 1/3 giữa xương cẳng chân phải. Chính giữa vùng chẩm có diện sây sát da đã đóng vẩy, một số vị trí bong vẩy để lộ nền màu hồng kích thước (3,5x2)cm. Thăm dò trong bằng bơm kim tiêm khoang lồng ngực, khoang ổ bụng có nhiều dịch màu hồng nhạt. Kiểm tra khoang mũi, miệng thấy có dịch nhầy đục, xương không tổn thương.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 153/KLGĐTT-KTHS ngày 18/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“Nguyên nhân chết của Đinh Xuân C do đa chấn thương: Chấn thương sọ não, chấn thương bụng kín (chấn thương gan độ II), gãy xương cẳng chân phải.
- Cơ chế hình thành dấu vết:
+ Các tổn thương tím da, sây sát da được hình thành do tác động với vật tày, có các hình dạng và diện tiếp xúc khác nhau tạo nên.
+ Tổn thương chảy máu vùng trán phải, chấm trái, tổn thương gan, gãy xương cẳng chân phải được hình thành do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh trực tiếp tạo nên là nguyên nhân gây tử vong của Đinh Xuân C”.
Tại bản kết luận giám định về giám định cơ chế hình thành dấu vết cơ học trong vụ tai nạn giao thông đường bộ số 243/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“Dấu vết mài sát sơn, kim loại tại bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 20H1- 160.67, gồm: Cần gương chiếu hậu, đầu tay nắm, để chân trước, để chân sau được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với với quá trình xe mô tô biển
kiểm soát 20H1-160.67 đổ nghiêng trái, rẽ trượt trên mặt đường tạo nên hệ thống dấu vết cày xước.
- Dấu vết vỡ nhựa tại mặt nạ của xe mô tô biển kiểm soát 20H1-160.67, có chiều hướng từ trước ra sau được hình thành do va chạm với vật tày tạo nên.
- Không xác định được dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 20H1- 160.67 với ông Đinh Xuân C.
- Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 20H1- 160.67 với phương tiện khác.
- Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển kiểm soát 20H1-160.67 tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học”.
Ngày 20/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H thu giữ 02 đoạn video có chứa nội dung liên quan đến vụ tai nạn giao thông được trích xuất từ camera an ninh của các hộ dân xung quanh hiện trường đồng thời tiến hành cho Hà Văn N xem lại 02 video thu giữ trên, bị can N xác định: Người đội mũ bảo hiểm màu vàng, mặc quần, áo màu đen điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius di chuyển theo hướng thị trấn T2 – Cầu Đ chính là N và đã va chạm với một người đi bộ chính là ông C khiến ông C ngã xuống đường, còn chiếc xe mô tô bị đổ nghiêng trên đường.
Tại Kết luận giám định số 338/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng K-Công an tỉnh B, kết luận: “Không xác định được nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định có tên “1HJ6CLBON_36G5LG.mp4” có bị cắt, ghép, chỉnh sửa hay không, do nội dung được ghi lại qua tính năng ghi màn hình của thiết bị di động; Không tiến hành xác định vị trí va chạm và trích xuất hình ảnh có liên quan đến vụ việc.”
Tại Kết luận giám định số 425/KL-KTHS ngày 26/02/2024 của Phòng K-Công an tỉnh B, kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video có tên “6511462748413602361.mp4”, dung lượng: 12,8MB; thời lượng: 02 phút 40 giây lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.”
Tại Phiếu kết quả của Phòng xét nghiệm MEDLATECH Bắc Giang ngày 19/12/2023, kết luận: Định lượng cồn trong máu của Hà Văn N dưới ngưỡng phát hiện.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 180.000.000 đồng (trong đó bị cáo B tự nguyện bồi thường thay cho N số tiền 20.000.000 đồng). Nay đại diện bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi gì thêm về trách nhiệm dân sự. Đại diện bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo N.
Về vật chứng: Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20H1- 160.67, đăng ký mang tên Nguyễn Thị B thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo B. Hiện nay chiếc xe này đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Hà Văn N, Nguyễn Thị B đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số 74/CT-VKS-HH ngày 16 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo:
- Hà Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
- Nguyễn Thị B về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 264 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa các bị cáo Hà Văn N, Nguyễn Thị B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hà Văn N 03 năm tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 05 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Căn cứ điểm a khoản 1 điều 264 Bộ luật hình sự; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B từ 08 tháng đến 10 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
Miễn cho bị cáo Bích phải khấu trừ một phần thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về vật chứng: Trả lại bị cáo Nguyễn Ngọc B1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 20H1- 160.67, số máy 1FC1026235; số khung RLCS1FC10DY026216.
5. Về án phí: Các bị cáo Hà Văn N, Nguyễn Thị Bích mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét hành vi của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ 17 phút ngày 19/12/2023, Hà Văn N (chưa có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA đi trên đường T hướng thị trấn T đi cầu Đ đến đoạn đường tỉnh lộ 295 thuộc địa phận Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để nhường đường cho người đi bộ nên đã đâm vào ông Đinh Xuân C, sinh năm 1942 đang đi bộ sang đường. Hậu quả, ông C được mọi người đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện điều trị từ ngày 19/12/2023 đến ngày 03/01/2024 thì tử vong.
Hành vi điều khiển xe mô tô của Hà Văn N khi chưa có giấy phép lái xe, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để nhường đường cho người đi bộ đã vi phạm Luật Giao thông đường bộ. Hành vi vi phạm các quy định khi tham gia giao thông của bị cáo N làm chết 1 người, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo theo tội danh và điều, khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị B biết rõ con trai mình là Hà Văn N chưa có giấy phép lái xe theo quy định nhưng vẫn giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển kiểm soát 20H1- 160.67, có dung tích 113cm3 cho N sử dụng từ tháng 9 năm 2023 đến ngày 19/12/2023 (ngày xảy ra tai nạn) N điều khiển xe mô tô gây tai nạn làm 01 người chết, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo B theo tội danh và điều, khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét về tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ.
Bị cáo N điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi chưa có giấy phép lái xe, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để nhường đường cho người đi bộ đang sang đương là thể hiện việc thiếu ý thức chấp hành pháp luật, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo B biết rõ con mình chưa có giấy phép lái xe nhưng giao xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ để N điều khiển, tham gia giao thông gây tai nạn làm thiệt hại đến tính mạng của người khác. Do vậy cần phải xử nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho loại tội này.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi thực hiện hành vi phạm tội gia đình bị cáo N và bị cáo B đã thống nhất thỏa thuận bồi thường xong về dân sự cho gia đình bị hại, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N; bị cáo B có bố đẻ được Chủ tịch UBND tỉnh Q tặng kỷ niệm chương “Chiến sỹ bảo vệ thành cổ Quảng Trị năm 1972”. Do vậy, các bị cáo đều được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo B lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Sau khi xem xét hành vi, tính chất, mức độ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Đối với bị cáo N: Mặc dù hậu quả của hành vi phạm tội là rất nghiêm trọng nhưng với lỗi vô ý, bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa từng bị xét xử, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặt biệt đại diện gia đình bị hại đã tha thứ và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù có thời hạn cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nhằm đề cao chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Do vậy, chưa cần thiết phải bắt bị cáo N chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà cho bị cáo
được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ để bị cáo lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân làm người có ích cho gia đình và xã hội.
- Đối với bị cáo B: Bị cáo B mặc dù là người có thân nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng bị cáo biết rõ N chưa có giấy phép lái xe nhưng vẫn giao xe cho N để tham gia giao thông dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như đã phân tích ở trên. Do vậy, cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi của bị cáo đã thực hiện đối với loại tội phạm này. Hiện bị cáo đã ly hôn và đang nuôi con ăn học; bản thân bị cáo đi làm công nhân thu nhập từ lương không ổn định. Do vậy, miễn khấu trừ một phần thu nhập hàng tháng đối với bị cáo cũng là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện tại của bị cáo.
[7]. Kiến nghị: Qua vụ án này Hội đồng xét xử thấy, đây cũng là bài học kinh nghiệm cho những người là chủ sở hữu xe ô tô, xe máy và nguồn nguy hiểm cao độ khác không được giao xe ô tô, xe máy và các nguồn nguy hiểm cao độ khác cho những người không có giấy phép lái xe, những người đang trong tình trạng đã uống rượu, bia hoặc sử dùng các chất kích thích (như ma túy...) điều khiển để trách gây ra hậu quả và bị xét xử như các bị cáo trong vụ án này.
[8]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo N không có tài sản riêng; bị cáo B lầu đầu phạm tội ít nghiên trọng, hiện nay thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.
[9]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo B và đại diện gia đình bị cáo N đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho đại diện bị hại số tiền 180.000.000 đồng. Đến nay đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác. Xét thấy sự thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Đối với anh Hà Huy H là bố để bị cáo N được bị cáo N tác động đứng ra thỏa thuận thống nhất bồi thường cho gia đình bị hại. Tại phiên tòa anh H không yêu cầu gì đối với bị cáo N phải hoàn trả lại số tiền anh H đã bỏ ra bồi thường cho bị hại. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[11]. Về vật chứng của vụ án: Đới với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20H1- 160.67, thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Nguyễn Thị B nên trả lại cho bị cáo B.
[12]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2017 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án:
- Buộc các bị cáo N, bị cáo B mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ điều luật và hình phạt:
1.1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hà Văn N 03 (Ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 05 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo N cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
1.2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B 10 (Mười) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
- Miễn áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo.
Giao bị cáo Nguyễn Thị B cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại bị cáo Nguyễn Thị B 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát 20H1- 160.67, số máy 1FC1026235; số khung RLCS1FC10DY026216.
(Toàn bộ đặc điểm vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 60/QĐ-VKS-HH ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/7/2024 giữa Công an huyện H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang)
4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2017 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án:
- Buộc các bị cáo Hà Văn N; Nguyễn Thị Bích mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Các bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Văn Hải |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giao thông
