Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09-5-2024

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/- Ông Trần Thành Hiệp
  • 2/- Ông Phan Văn Dân

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2024/TLST–HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Kiều A, sinh năm 2003 (có mặt).

Nơi cư trú: Tổ B, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Anh Dương Văn L, sinh năm 1996 (có mặt).

Nơi cư trú: Tổ G, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn P, sinh năm 1983. Là Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn P thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai ngày 11/01/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hồ Thị Kiều A trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Dương Văn L do quen biết tìm hiểu nên tiến tới hôn nhân năm 2020, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn ngày 13/12/2021 tại UBND xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, dẫn đến không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau, chồng không phụ tiếp lo lắng cho cuộc sống gia đình, cuộc sống không hạnh phúc, không thể hàn gắn, chị không thể làm dâu bên chồng, có lần chị bế con về nhà ngoại chơi khoảng 30 phút thì mẹ chồng trả chị về bên cha mẹ ruột chị với lý do chị không làm dâu được. Do tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Dương Văn L.

Về con chung: Có 01 con chung tên Dương Văn Gia B, sinh ngày 14/8/2021. Khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi con, chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại tờ tự khai ngày 22/01/2024 và biên bản hòa giải ngày 26/3/2024 bị đơn anh Dương Văn L trình bày:

Về hôn nhân: Anh thống nhất với nội dung trình bày của chị Kiều A về thời gian kết hôn và điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn do lần vợ bế con về nhà vợ chơi thì ba mẹ anh có nói để cháu lại nhà, từ đó có mâu thuẫn. Mặt khác do vợ chồng cũng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng sống không hạnh phúc, không thể hàn gắn được tình cảm với nhau. Anh đồng ý ly hôn với chị Hồ Thị Kiều A.

Về con chung: Có 01 con chung tên Dương Văn Gia B, sinh ngày 14/8/2021. Khi ly hôn, anh yêu cầu nuôi con, không yêu cầu Kiều A cấp dưỡng nuôi con. Do kinh tế anh tốt hơn thu nhập mỗi ngày 500.000 đồng, bình quân từ 10.000.000 đồng – 12.000.000 đồng/tháng, chị Kiều A đi làm công ty kinh tế ít hơn, không có thời gian chăm lo cho con, anh đi làm trưa có thể về thăm con, chiều anh tiếp tục đi làm, còn Kiều A sáng đi làm công ty chiều mới về, nhà anh gần trường học và gần chợ nên anh nuôi con tốt hơn.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn P trình bày: Thống nhất nội dung trình bày của anh Dương Văn L. Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn cho hai bên, giao con cho anh L được nuôi vì anh L có thu nhập cao hơn, điều kiện nuôi con tốt hơn chị Kiều A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hôn nhân: Chị Hồ Thị Kiều A và anh Dương Văn L kết hôn với nhau vào năm 2020, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện C, tỉnh An Giang số 68 ngày 13/12/2021. Do vậy, hôn nhân của anh, chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét về mối quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị Hồ Thị Kiều A và anh Dương Văn L chung sống hạnh phúc đến tháng 6 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị Kiều A trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm, dẫn đến không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau, chồng không phụ tiếp lo lắng cho cuộc sống gia đình, cuộc sống không hạnh phúc, không thể hàn gắn, mẹ chồng trả chị về bên cha mẹ ruột chị với lý do chị không làm dâu được. Do tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Dương Văn L. Đối với anh Dương Văn L thì trình bày nguyên nhân mâu thuẫn do lần vợ bế con về nhà vợ chơi thì ba mẹ anh có nói để cháu lại nhà, từ đó có mâu thuẫn. Mặt khác do vợ chồng cũng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng sống không hạnh phúc, không thể hàn gắn được tình cảm với nhau. Anh đồng ý ly hôn với chị Hồ Thị Kiều A. Xét thấy, thời gian ly thân từ tháng 6 năm 2022 cho đến nay hai bên không có thiện chí hàn gắn lại quan hệ tình cảm, khả năng hàn gắn là không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nghĩ nên công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Kiều A và anh L là hoàn toàn phù hợp.

[2] Về con chung: Chị Kiều A và anh L có 01 con chung tên Dương Văn Gia B, sinh ngày 14/8/2021. Hiện cháu Gia B đang sống với chị Kiều A. Sau khi ly hôn, cả hai bên đều xin được nuôi con chung, anh L yêu cầu nuôi con vì anh cho rằng kinh tế anh tốt hơn thu nhập của anh cao hơn, chị Kiều A đi làm công ty kinh tế ít hơn, không có thời gian chăm lo con. Xét thấy từ khi ly thân đến nay cháu Gia B sống với chị Kiều A cuộc sống đã ổn định, chị Kiều A vẫn nuôi con tốt, cháu Gia B vẫn phát triển bình thường, xét nghĩ không nên làm xáo trộn cuộc sống bình thường của cháu Gia B, vã lại hiện nay cháu Gia B còn dưới 36 tháng tuổi, do đó nghĩ nên căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 giao cho chị Kiều A được tiếp tục nuôi con là phù hợp hơn.

Về cấp dưỡng nuôi con chung chị Kiều A không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị Hồ Thị Kiều A và anh Dương Văn L mỗi người phải chịu 150.000 đồng án phí hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147, 227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hồ Thị Kiều A và anh Dương Văn L.
  • - Về con chung: Chị Hồ Thị Kiều A được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Dương Văn Gia B, sinh ngày 14/8/2021. Anh Dương Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền tới lui, thăm nom con chung cho anh L, không ai được cản trở.
  • - Về án phí: Chị Hồ Thị Kiều A phải chịu 150.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu số 0004493 ngày 06/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Như vậy chị Hồ Thị Kiều A được nhận lại 150.000 đồng tại chi cục thi hành án huyện Châu Thành. Anh Dương Văn L phải chịu 150.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Chị Hồ Thị Kiều A và anh Dương Văn L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng (để thi hành);
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - UBND xã Vĩnh Hanh;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Kim Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hồ Thị Kiều Anh và anh Dương Văn Lẹ. - Về con chung: Chị Hồ Thị Kiều Anh được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Dương Văn Gia Bảo, sinh ngày 14/8/2021. Anh Dương Văn Lẹ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền tới lui, thăm nom con chung cho anh Lẹ, không ai được cản trở.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger