|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 76/2024/HS-ST Ngày 08/8/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Lê Kiên Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Cao Thị Hưng.
- 2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh .
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hoàn– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Văn B
Bùi Văn B, sinh năm 1993 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C, sinh năm 1971 và bà Bùi Thị N, sinh năm 1974; có vợ là Lê Thị H, sinh năm 1995 (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 65/QĐ-XPVPHC ngày 27/11/2023 của Chủ tịch UBND xã C, huyện Đ phạt Bùi Văn B 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, B đã nộp phạt ngày 27/11/2023; bị tạm giữ từ ngày 27/4/2024 đến ngày 30/4/2024 chuyển tạm giam (có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
- - Ông Bùi Văn C, sinh năm 1971 và bà Bùi Thị N, sinh năm 1974; đều cư trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (đều có mặt tại phiên tòa).
- - Công ty Cổ phần T2; trụ sở tại: Tòa nhà V, số I, phố D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Bà Phạm Thị L- Chủ tịch Hội đồng quản trị (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền của công ty cổ phần T2: Ông Dương Thành L1, sinh năm 1991; địa chỉ: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Chức vụ: Trưởng ban Q - Phố Nối gói 54 (có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- - Anh Nguyễn Như T, sinh năm 1989; nơi cứ trú: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
* Người làm chứng:
- - Ông Trương Văn P, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- - Ông Đặng Đình D, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn B là đối tượng sử dụng ma túy, đã 01 lần bị xử phạt hành chính vào tháng 11/2023 về hành vi trộm cắp tài sản. B không có việc làm ổn định, hiện đang ở cùng nhà với bố mẹ đẻ là ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị N. Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2023 đến ngày 26/4/2024, do cần tiền chi tiêu cá nhân, B đã 03 lần thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Đ tỉnh Thái Bình. Các lần trộm cắp cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 19 giờ một ngày tháng 9/2023, lợi dụng lúc ông C và bà N đang ngủ tại phòng ngủ của gia đình, B đi vào phòng khách, dùng hai tay bê chiếc chum làm bằng gỗ cate, màu nâu, cao 0,5m, đường kính phần rộng nhất 0,4m, đường kính phần hẹp nhất 0,07m, trọng lượng 38kg của bố, mẹ mang đến cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ Nguyễn Như T của anh Nguyễn Như T, ở tại xã Đ, huyện Đ cầm cố được 2.500.000 đồng. Đến sáng hôm sau, bà N phát hiện bị mất chiếc chum gỗ, hỏi B thì B thừa nhận đã trộm cắp chiếc chum và cầm cố tại cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ Nguyễn Như T. Sau đó, bà N đã nhờ anh Nguyễn Hữu Đ (con rể) đến cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ Nguyễn Như T chuộc lại chiếc chum trên với số tiền là 2.500.000 đồng và nhờ anh Đ mang chiếc chum về nhà anh Đ gửi ở đó để tránh việc B tiếp tục trộm cắp chiếc chum này. Số tiền có được từ việc cầm cố chiếc chum B đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ 2: Khoảng 20 giờ một ngày tháng 10/2023, lợi dụng lúc ông C và bà N đang ngủ, B đi vào phòng khách, dùng hai tay bê chiếc chum làm bằng gỗ cate, màu nâu, cao 0,7m, đường kính phần rộng nhất 0,4m, đường kính phần hẹp nhất 0,1m, trọng lượng 43kg của bố, mẹ B đến cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ Nguyễn Như T của anh Nguyễn Như T cầm cố được 3.000.000 đồng. Đến sáng hôm sau, bà N phát hiện bị mất chiếc chum gỗ nên đã hỏi B thì B thừa nhận đã trộm cắp chiếc chum và cầm cố tại cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ Nguyễn Như T. Sau đó, bà N nhờ anh Nguyễn Hữu Đ đến cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ Nguyễn Như T chuộc lại chiếc chum trên với số tiền là 3.000.000 đồng và nhờ anh Đ mang chiếc chum về nhà anh Đ gửi ở đó để tránh việc B tiếp tục trộm cắp chiếc chum này. Số tiền có được từ việc cầm cố chiếc chum B đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 27/4/2024, bà Bùi Thị N đến cơ quan Công an trình báo về sự việc trên. Cùng ngày, B đã đến Công an xã Đ đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 28/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ, tỉnh Thái Bình kết luận: 01 (một) chiếc chum làm bằng gỗ cate, màu nâu, cao 0,7m, đường kính phần rộng nhất 0,4m, đường kính phần hẹp nhất 0,1m, trọng lượng 43 kg, đã qua sử dụng, tính đến thời điểm bị xâm hại có trị giá là: 3.500.000 (Ba triệu năm trăm nghìn đồng); 01 (một) chiếc chum làm bằng gỗ cate, màu nâu, cao 0,5m, đường kính phần rộng nhất 0,4m, đường kính phần hẹp nhất 0,07m, trọng lượng 38 kg, đã qua sử dụng, tính đến thời điểm bị xâm hại có trị giá là: 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Vụ thứ 3: Khoảng 10 giờ ngày 26/4/2024, B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, sơn màu đen, biển kiểm soát 17B2-099.64 mang theo chiếc bao xác rắn màu trắng xanh từ nhà đi đến xã T, huyện Đ mục đích trên đường đi thấy tài sản của nhà dân để sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khi đi đến bãi tập kết vật liệu xây dựng thi công móng trụ cột điện đường dây 500KV của Công ty Cổ phần T2 tại thôn T, xã T, B thấy có nhiều thanh sắt có kích thước khác nhau. Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi nên B dừng xe ở gần bãi, xuống xe, mang bao xác rắn đi đến bãi vật liệu, nhanh chóng lấy 22 thanh sắt cho vào bao rồi bê bao lên định mang ra xe mô tô để mang về tiêu thụ thì bị ông Đặng Đình D và ông Trương Văn P (là bảo vệ của Công ty T2) phát hiện bắt quả tang, đưa B cùng vật chứng lên Công an xã T trình báo sự việc.
Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 21/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ, tỉnh Thái Bình kết luận: 10 thanh sắt phi 20 dài 75cm, 09 thanh sắt phi 20 dài 53cm, 02 thanh sắt phi 20 dài 63cm, 01 thanh sắt phi 14 dài 75cm có tổng trọng lượng là 30 kg. Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 240.000 đồng (Hai trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Tại phiên tòa:
- + Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- + Bị hại, ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị N khai: Năm 2006 vợ chồng ông bà đi vùng kinh tế mới vào Gia Lai kiếm gỗ và tự làm ra 02 chiếc chum gỗ, cả 02 chiếc chum đều để tại gian phòng khách của gia đình. Vào một ngày tháng 9/2023 và một ngày tháng 10/2023 đều vào buổi tối khi vợ chồng ông bà có nhà nhưng nằm ở trong phòng ngủ, B đã lấy trộm của vợ chồng bà 02 chiếc chum gỗ trên. Việc B trộm cắp chiếc chum vợ chồng ông bà không biết, đến hôm sau thấy mất chum và không thấy B đâu, bà N có gọi điện thoại hỏi B thì được biết B đã đem chum gỗ đi cầm cố tại quán cầm đồ của anh T ở xã Đ. Bà N đã nhờ anh Nguyễn Hữu Đ (con rể bà) bỏ tiền để chuộc từ hiệu cầm đồ 02 chiếc chum gỗ trên. Ông C, bà N không có yêu gì đối với bị cáo B và ông, bà xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B.
- + Lời khai của anh Vũ Thành L2– đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần T2: Anh L2 được Công ty T2 giao nhiệm vụ Trưởng ban Q- Phố Nối gói 54. Ngày 26/4/2024, anh được thông báo tại khu vực bãi tập kết vật liệu xây dựng của công ty thuộc địa phận xã T, huyện Đ có phát hiện đối tượng trộm cắp các đoạn sắt với tổng trọng lượng là 30kg. Đây là những đoạn sắt dư thừa đã được cắt để phù hợp với kết cấu công trình, những thanh sắt này được tập hợp lại để trả lại Công ty. Công ty đã được Cơ quan điều tra bàn giao tài sản bị trộm cắp nên không có yêu cầu gì đối với bị cáo B.
- Lời khai của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra có nội dung:
- + Anh Nguyễn Hữu Đ khai: Anh là người bỏ tiền để chuộc từ hiệu cầm đồ của anh Nguyễn Như T 02 chiếc chum gỗ bị cáo B cầm cố về trả cho bố mẹ vợ anh là ông C, bà N. Anh không yêu cầu bị cáo B phải hoàn lại cho anh số tiền anh đã bỏ ra chuộc 02 chiếc chum.
- + Anh Nguyễn Như T trình bày: Anh T1 là chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ Nguyễn Như T có địa chỉ tại xã Đ, huyện Đ, anh T đã nhận cầm cố của Bùi Văn B 02 chiếc chum gỗ vào thời điểm buổi tối một ngày tháng 9 và tháng 10/2023, sau đó anh Nguyễn Hữu Đ đã đến chuộc 02 chiếc chum trên. Khi nhận cầm cố anh T không biết nguồn gốc tài sản là do B trộm cắp mà có.
- Lời khai của người làm chứng là ông Trương Văn P và ông Đặng Đình D tại Cơ quan điều tra có nội dung: Ông P và ông D được thuê làm bảo vệ vật liệu cho Công ty Cổ phần T2 tại bãi sắt ở thôn T, xã T, huyện Đ. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 26/4/2024, các ông phát hiện thấy 01 đối tượng điều khiển xe mô tô màu đen dừng xe ở khu bãi sắt. Khi thấy đối tượng bỏ sắt vào bao xác rắn thì ông D và ông P tiến đến khống chế và đưa người này lên Ủy ban nhân dân xã T để bàn giao cho Công an xã.
Bản cáo trạng số 73/CT-VKSĐH ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng truy tố bị cáo Bùi Văn B về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/4/2024.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 bao xác rắn Cơ quan điều tra quản lý của bị cáo.
- + Trả lại bị cáo chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, sơn màu đen, biển kiểm soát 17B2-099.64
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của Bùi Văn B tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng và được chứng minh bằng: Lời khai của bị hại là ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị N, lời khai của ông Vũ Thành L2- đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần T2; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Như T và anh Nguyễn Hữu Đ; lời khai của người làm chứng là ông Trương Văn P và ông Đặng Đình D; Bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 28/4/2024, Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 21/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: B là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2023 đến ngày 26/4/2024, Bùi Văn B là người đã bị xử phạt hành chính vào tháng 11/2023, có hành vi 03 lần lén lút chiếm đoạt tài sản của các chủ sở hữu tài sản trên địa bàn huyện Đ, tổng tài sản chiếm đoạt trị giá 6.240.000 đồng, trong đó: Tháng 9/2023 chiếm đoạt của vợ chồng ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị N 01 chiếc chum gỗ trị giá 2.500.000 đồng; tháng 10/2023 chiếm đoạt của vợ chồng ông C, bà N 01 chiếc chum gỗ trị giá 3.500.000 đồng; ngày 26/4/2024 chiếm đoạt 22 thanh sắt trị giá 240.000 đồng của Công ty Cổ phần T2. Hành vi của B đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, làm cho chủ sở hữu tài sản không yên tâm trong việc quản lý tài sản của mình. Bị cáo đã 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa hết thời gian để được coi là xóa tiền sự nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học sửa chữa cho bản thân nay lại dấn thân vào con đường phạm tội. Hậu quả mà bị cáo gây ra phải chịu sự trừng trị của pháp luật.
[4] Khi quyết định hình phạt, xét thấy:
Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; sau khi phạm tội đã ra đầu thú và tại phiên tòa được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt tương xứng để cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện và có tác dụng chung trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.
Do bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- - Các bị hại là ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị N và Công ty Cổ phần T2 đã được nhận lại tài sản do B trộm cắp và không yêu cầu B phải bồi thường nên không đặt ra giải quyết.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hữu Đ không yêu cầu B phải hoàn lại số tiền mà anh Đ đã bỏ ra để chuộc lại 02 chiếc chum gỗ. Đây là sự tự nguyện của anh Đ nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Chiếc bao xác rắn là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, sơn màu đen, biển kiểm soát 17B2-099.64 là tài sản của bị cáo dùng làm phương tiện đi lại của cả gia đình. Do chiếc xe mô tô đó B chưa sử dụng vào việc phạm tội nên tuyên trả lại cho B.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
[10] Trong vụ án này: Anh Nguyễn Như T là người nhận cầm cố 02 chiếc chum gỗ từ B nhưng khi nhận cầm cố anh T không biết nguồn gốc tài sản là do B trộm cắp mà có, Cơ sở kinh doanh của anh T có đầy đủ giấy tờ được phép kinh doanh dịch vụ cầm đồ nên anh T không bị xem xét xử lý về hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bùi Văn B 01 năm 03 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/4/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bao xác rắn của Bùi Văn B.
- - Trả lại Bùi Văn B chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, sơn màu đen, biển kiểm soát 17B2-099.64
- (Vật chứng trên đã được bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 10/7/2024).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Bị cáo Bùi Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đối với người có mặt tại phiên tòa; kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật đối với người vắng mặt tại phiên tòa).
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lê Kiên Trung |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Bắc- Trộm Cắp tài sản khoản 1 điều 173
