TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2024/HS-ST
Ngày 08-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
- Ông Lưu Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Út E, sinh ngày 26 tháng 12 năm 1979 tại C, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Ngư phủ; trình độ văn hóa: 2/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Huỳnh Thị L; vợ Lê Thị Tuyết Đ; con có 02 người con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/12/2023, đến ngày 17/5/2024 cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Trần Văn G, sinh ngày 09 tháng 8 năm 1992 tại C, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Ngư phủ; trình độ văn hóa: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Văn R và bà Nguyễn Thị B; vợ Trương Thị Bích T1; con chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/12/2023, đến ngày 17/5/2024 cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Văn P, sinh ngày 26 tháng 11 năm 1974 tại C, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Huỳnh Thị L; vợ Trần Thị H; con có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/12/2023, đến ngày 12/01/2024 cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Phụng E1, sinh ngày 05 tháng 8 năm 1977 tại C, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Ngư phủ; trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Huỳnh Thị L; vợ Lâm Thị Bé B1; con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2002 nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/12/2023, đến ngày 25/3/2024 cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Nhựt H1, sinh ngày 11 tháng 11 năm 2002 tại C, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị H; vợ là Trần Thị Lâm A (đã ly hôn) và có 01 con (đang sống với mẹ); Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Lâm H2, sinh ngày 03 tháng 10 năm 2002 tại C, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Ngư phủ; trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Phụng E1 và bà Lâm Thị Bé B1; chưa có vợ con; Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Lê Văn H3, sinh ngày 30 tháng 9 năm 1991 tại G, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Lê Văn T2 và bà Nguyễn Thị H4; vợ Võ Thị Huyền T3, con có 01 người sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 13/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số: 28/2018/HSST; Ngày 02/01/2013 bị UBND tỉnh K đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 18 tháng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” tại Quyết định số 14/QĐ-UBND; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/12/2023, đến ngày 20/5/2024 cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Lê Quốc K, sinh ngày 09 tháng 5 năm 1998 tại Đ, Cà Mau; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Lê Văn H5 và bà Phan Hồng N; vợ Trần Bích T4, con 01 người (6 tháng tuổi); Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Phi L1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1983 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị P1; vợ Võ Thị L2; con có 02 người, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo H3: Ông Nguyễn Tấn T5, sinh năm 1977 - Luật sư, Văn phòng Luật sư Phạm Văn C thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lâm Văn P2, sinh năm 1994. Địa chỉ: Xẻo N, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
Người làm chứng:
Chị Trần Thị Mai T6, sinh năm 1996. Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
Anh Nguyễn Hoàng L3, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ ngày 10/11/2023, đoàn ghe cào lụa của các bị can Nguyễn Văn P, Nguyễn Phụng E1, Nguyễn Út E và Trần Văn G đi cào lụa ở gần vàm biển X thuộc xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, cách bờ ra biển khoảng 03 hải lý, cách vàm Xẻo Nhàu về hướng Cà Mau khoảng 500m. Khi đang cào lụa thì bị nhóm của bị can Lê Văn H3 gồm: Lê Văn H3, Lê Quốc K, Nguyễn Phi L1, Dương Minh K1 và Lê Trí B2 (B2 là người chạy đò dọc thuê cho bị can H3), chạy ra ngăn cản không cho cào. Lúc này giữa hai bên xảy ra cự cãi nên đoàn ghe bên nhóm bị can P nghỉ cào và chạy về vàm Xẻo Nhàu neo đậu. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, bị can Phụng E1, H1 và H4 đi đò dọc vào vựa thu mua hải sản của ông Cao Minh T7 ở ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang để bán lụa, sau khi bán lụa xong bị can Phụng E1 về ghe trước, còn H1 và H4 ở lại đợi lấy tiền. Trong lúc H1 và H4 đang ngồi tại bến M đón đò dọc đi về ghe thì nhóm của bị can H3 đi thu mua về tới, thấy H1 và H4 ngồi đó nên Hòn nhàu lại dùng tay đánh vào người H1 nhiều cái, K cũng nhàu vô đánh và đá H4 nhiều cái thì được ông T7 can ra. Sau đó, nhóm của H3 đến quán của anh Lâm Văn P2 ở gần đó uống cà phê. Sau khi bị đánh, H1 gọi điện thoại cho cha mình là bị can P biết, lúc này bị can P cùng với các bị can Phụng Em, Út E, G và những người đi ghe chung là Nguyễn Ngọc H6 (C1), Phạm Văn C2, Lê Hoàng L4 (C), P3, N1 cùng một số người nữa không xác định được lai lịch nhân thân, mang theo nhiều loại hung khí như dao, gậy gỗ, ống tuýp sắt... đi vào tìm nhóm của bị can H3 đánh lại. Khi vào tới bến của ông T7, thì các bị can Út E, G, H4 và đối tượng H6, C2, L4, P3 cầm hung khí chạy lên trước, bị can H1, P và Phụng E1 chạy theo phía sau. Khi đi bị can Út E cầm 01 (một) khúc gỗ cạnh vuông kích thước (03 x 05 x 70)cm, nhặt được trên đường đi, bị can G mang theo 01 (một) cây dao Inox, mủi bằng, màu trắng, dài khoảng 20cm, bị can H4 mang theo cây nẹp cào bằng kim loại, dài khoảng 01m, bị can H1 cầm 01 (một) khúc gỗ cạnh vuông có chiều dài 0,97m, 02 cạnh là (38 x 25) mm, nhặt được trên đường đi, bị can P mang theo cây cần số bằng kim loại hình trụ có chiều dài 1,683m, đường kính 27mm, bị can Nguyễn Phụng E1 mang theo 01 (một) ống tuýp sắt dài khoảng 80cm, đường kính 27mm có sẵn dưới ghe. Khi gặp nhóm của H3, bị can Út E và bị can H3 cự cãi qua lại vài câu thì H3 nhặt cục đá (bê tông làm lộ) ném trúng vào vùng đầu của bị can Út E, nhóm của Út E xông vào rượt đuổi nhóm của H3 để đánh lại, nhóm của bị can H3 bỏ chạy vào trong quán bi da của anh P2, bị can G đuổi theo vào trong quán và lấy trái bị da có sẵn trên bàn ném về phía nhóm của H3 nhưng không trúng ai, bị can P nhặt 01 cục đá chọi về phía nhóm của H3 nhưng chỉ trúng vào cửa quán không trúng ai, bị can P Em cầm ống tuýp sắt chạy đến cửa quán cà phê thì nhóm của H3 đã chạy vào trong quán nên không có đánh trúng ai, H3 bị rượt vào trong quán và bị một người thanh niên không mặc áo cầm dao tự chế chém loạn xạ nhiều cái, H3 đưa tay lên đỡ thì bị chém trúng ở lòng bàn tay trái, H3 lấy cây cơ đánh bị da bẻ gãy ra làm đôi, bị can Nguyễn Phi L1 lấy 01 cây cơ, Dương Minh K1 lấy 01 khúc cơ gãy, 02 người bạn của H3 cũng lấy thanh kẽm và cơ có sẵn trong quán cùng nhau rượt lại ra khỏi cửa quán một đoạn rồi dừng lại, nhóm của bị can P thì chạy lên dốc cầu gần đó đứng. Lê Trí B2 có lấy 02 thanh kẽm có có sẵn trong quán nhưng chỉ đứng trong quán thủ thân chứ không rượt đánh lại nhóm của bị can P. Lúc bị nhóm bị can P rượt đuổi, thì bị can Lê Quốc K và một người thanh niên mặc áo thun màu đen (chưa xác định được lai lịch nhân thân) chạy qua bên hong quán của anh P2 về hướng cảng X, Út E và H4 cầm hung khí đuổi theo, người thanh niên mặc áo thun đen bị vấp cái ghế té xuống lộ thì bị H4 đánh trúng vào chân 01 cái, H4 cùng vấp té thì người thanh niên mặc áo thun đen nhàu lại định đánh H4, nhưng Út E nhàu lại thì người này bỏ chạy. Bị can K bị rượt chạy thì có nhặt 01 (một) thanh gỗ dài khoảng 01m rượt lại nhưng rượt theo khoảng 20m thì dừng lại và không có đánh trúng ai. Hai nhóm bị can rượt đuổi qua lại một lúc thì lực lượng Công an xã T và cán bộ Đồn Biên phòng X đến mời về Công an xã T làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, các bị can: Nguyễn Út E, Trần Văn G, Nguyễn Văn P, Nguyễn Phụng E1, Nguyễn Nhựt H1, Nguyễn Lâm H2, Lê Văn H3, Lê Quốc K, Nguyễn Phi L1 đã khai nhận hành vi phạm tội.
Sau khi sự việc xảy ra, Lê Văn H3, Nguyễn Út E, Nguyễn Nhựt H1 có đơn yêu cầu giám định thương tích.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 89/KLTTCT-PY ngày 15/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh K, kết luận thương tích của bị can Lê Văn H3, như sau:
* Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định:
+ Sẹo phần mềm vùng mặt phải.
+ Vết thương bàn tay trái, gãy xương bàn ngón V tay trái, hiện xương di lệch trục, biến dạng xương bàn gây hạn chế vận động ngón V ít.
- Kết quả cận lâm sàng: Gãy xương bàn ngón V tay trái.
* Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn H3 tại thời điểm giám định là: 15% (mười lăm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên tại thời điểm giám định ở:
+ Vùng mặt phải là: 03% (Ba phần trăm).
+ Vùng bàn tay trái là: 11,89% (Mười một phẩy tám mươi chín phần trăm).
- Vật gây thương tích:
+ Thương tích ở vùng mặt phải do vật tày gây nên.
+ Thương tích ở vùng bàn tay trái do vật có cạnh sắc gây nên.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 90/KLTTCT-PY ngày 15/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh K, kết luận thương tích của bị can Nguyễn Út E, như sau:
* Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định: Sẹo phần mềm vùng đỉnh - thái dương trái.
- Kết quả cận lâm sàng: Không thấy hình ảnh bất thường
* Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Út E tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Vật gây thương tích: Vật tày có cạnh.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 92/KLTTCT-PY ngày 16/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh K, kết luận thương tích của bị can Nguyễn Nhựt H1, như sau:
* Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định:
+ Hiện tại vùng đầu và vai trái không thấy dấu vết thương tích do đả thương.
+ Chấn thương phần mềm vùng cổ. Hiện tại không thấy dấu vết thương tích do đả thương.
- Kết quả cận lâm sàng: Không thấy hình ảnh bất thường.
* Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Nhựt H1 tại thời điểm giám định là: 00% (Không phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên tại thời điểm giám định ở:
+ Vùng đầu là: 00% (Không phần trăm).
+ Vùng cổ là: 00% (Không phần trăm).
+ Vùng vai trái là: 00% (Không phần trăm).
- Vật gây thương tích:
+ Hiện tại vùng đầu và vai trái không thấy dấu vết thương tích do đả thương nên không có cơ sở kết luận vật gây nên thương tích.
+ Chấn thương phần mềm vùng cổ do vật tày gây nên.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng, Cơ quan điều tra đã thu giữ số vật chứng sau:
- - 01 (một) thanh kim loại hình trụ dài 200cm, đường kính 2,7cm.
- - 01 (một) thanh kim loại có kích thước (151 x 03 x 06)cm.
- - 01 (một) thanh kim loại có kích thước (84 x 03 x 06)cm.
- - 01 (một) thanh kim loại có kích thước (73 x 03 x 06)cm.
- - 01 (một) cây dao tự chế bằng kim loại có tổng chiều dài 93cm, lưỡi dao nơi rộng nhất là 04cm, mũi dao nhọn.
- - 01 (một) cây dao tự chế bằng kim loại có tổng chiều dài 85cm, lưỡi dao nơi rộng nhất là 03cm, mũi dao nhọn.
- - 01 (một) cây dao tự chế, cán gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, tổng chiều dài 63cm, lưỡi dao nơi rộng nhất là 04cm, mũi dao nhọn.
- - 01 (một) cây bẻ răng cào bằng kim loại dài 72cm.
- - 01 (một) cây cơ đánh bị da bằng gỗ, bị gãy, chiều dài 141cm.
- - 01 (một) cây cơ đánh bị da bằng gỗ, bị gãy, chiều dài 102cm.
- - 01 (một) cây cơ đánh bị da bằng gỗ, bị gãy, chiều dài 72cm.
- - 01 (một) cây cơ đánh bị da bằng gỗ, bị gãy, chiều dài 69cm.
- - 01 (một) đoạn đầu thanh cơ đánh bi da, bằng gỗ, chiều dài 72cm.
- - 01 (một) đoạn đầu thanh cơ đánh bi da, bằng gỗ, chiều dài 70cm.
- - 01 (một) đoạn đầu thanh cơ đánh bi da, bằng gỗ, chiều dài 69,5cm.
- - 01 (một) thanh cơ đánh bi da, bằng gỗ, bị gãy, chiều dài 70cm, đường kính rộng nhất 3,2cm, đường kính hẹp nhất 2,2cm.
- - 01 (một) thanh gỗ cạnh vuông có chiều dài 0,97m, chiều dài 02 cạnh là (38 x 25) mm.
- - 01 (một) thanh sắt hình trụ có chiều dài 1,683m, đường kính 27mm.
- - 01 (một) khúc gỗ có cạnh vuông, kích thước (03 x 05 x 70)cm.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình đánh nhau, các bị can đã làm hư hỏng một số tài sản của anh Lâm Văn P2, các bị can Nguyễn Út E, Trần Văn G, Nguyễn Văn P, Nguyễn Phụng E1, Nguyễn Nhựt H1, Nguyễn Lâm H2 đã bồi thường cho anh P2 số tiền 3.000.000 đồng. Bị can Lê Văn H3 đã bồi thường cho anh P2 số tiền 500.000 đồng, anh P2 không có yêu cầu gì thêm. Đối với các khoản chi phí điều trị thương tích, các bị can Lê Văn H3, Nguyễn Út E, Nguyễn Nhựt H1 không có yêu cầu bồi thường nên không xét.
Tại Cáo trạng số 60/CT-VKS-AM ngày 13-6-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Út Em, Trần Văn Gàng, Nguyễn Văn P, Nguyễn Phụng E1, Nguyễn Nhựt H1, Nguyễn Lâm H2, Lê Văn H3, Lê Quốc K, Nguyễn Phi L1 về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận các bị cáo Nguyễn Út E, Trần Văn G, Nguyễn Văn P, Nguyễn Phụng E1, Nguyễn Nhựt H1, Nguyễn Lâm H2, Lê Văn H3, Lê Quốc K, Nguyễn Phi L1 phạm tội Gây rối trật tự công cộng và đề nghị:
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Út E, Trần Văn G, Lê Văn H3 mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Phụng E1 từ 04 đến 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt H1, Nguyễn Lâm H2, Lê Quốc K, Nguyễn Phi L1 mỗi bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù.
+ Về trách nhiệm dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét. Về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Bị cáo trình bày: Các bị cáo Nguyễn Út E, Trần Văn G, Nguyễn Văn P, Nguyễn Phụng E1, Nguyễn Nhựt H1, Nguyễn Lâm H2, Lê Văn H3, Lê Quốc K, Nguyễn Phi L1 thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng các bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo H3: lời khai của 2 nhóm bị cáo có mâu thuẫn (ở ngoài biển nhóm Phụng Em có chọi đá phía Hòn không? Chỗ ông Minh T7 không có thu mua hải sản? khi tại quán cà phê H3 bị tấn công trước nên mới chống trả?). Quá trình xô xát H3 bị thương tích là 15% nên mặc dù người trực tiếp gây thương tích đã bỏ trốn nhưng các đồng phạm khác phải chịu trách nhiệm; hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích nên việc truy tố tội Gây rối trật tự công cộng là chưa thỏa đáng. Đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc Luật sư bào chữa cho rằng cần phải trả hồ sơ để đối chất một số mâu thuẫn trong lời khai. HĐXX nhận thấy, tuy các bị cáo khai có mâu thuẫn nhưng nội dung khai không ảnh hưởng đến nội dung vụ án và Tòa án có thể thực hiện tại phiên tòa nên không cần trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về vấn đề đánh giá hành vi để xác định tội danh thuộc về nội dung vụ án nên sẽ được xem xét trong quá trình xét xử.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 10/11/2023, tại ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, do có mâu thuẫn trong việc đánh bắt hải sản trên biển nên nhóm của bị cáo Nguyễn Út E, Trần Văn G, Nguyễn Văn P, Nguyễn Phụng E1, Nguyễn Nhựt H1, Nguyễn Lâm H2 xảy ra mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau với nhóm của bị cáo Lê Văn H3, Lê Quốc K, Nguyễn Phi L1 và một số đối tượng khác. Các bị cáo đánh nhau tại quán của ông Lâm Văn P2 và khu vực lộ xe phía ngoài, khi đánh nhau các bị cáo sử dụng dao, gậy gỗ, cục đá, ống tuýp sắt... gây mất an ninh trật tự tại nơi công cộng.
[3] Về tội danh:
[3.1] Xác định tội danh: Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được việc đánh nhau tại nơi công cộng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện là phạm tội với lỗi cố ý; các bị cáo cùng thực hiện tội phạm nên là đồng phạm nhưng chỉ ở mức độ giản đơn, trong đó bị cáo H3 và K là người khởi xướng, khi nhìn thấy H1 và H2 ngồi tại bến M đón đò dọc thì H3 và K đi đến và đánh vào người H1, H2 nhiều cái, sau khi được can ngăn thì H1 gọi điện thoại cho cha là bị cáo P biết việc bị đánh mới dẫn đến sự việc nhóm của bị cáo Út E đánh nhau với nhóm của bị cáo H3 tại nơi công cộng. Các bị cáo cùng thực hiện hành vi đánh nhau tại nơi công cộng, gây hoãng sợ cho những người đang có mặt tại quán cà phê, gây hỗn loạn trên đường là nơi lưu thông của rất nhiều phương tiện giao thông, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do đó, hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng được quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự.
[3.2] Về định khung hình phạt: khi đánh nhau các bị cáo sử dụng dao, gậy gỗ, cục đá, ống tuýp sắt... được xác định là hung khí, đây là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng “dùng hung khỉ” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận các bị cáo Nguyễn Út E, Trần Văn G, Nguyễn Văn P, Nguyễn Phụng E1, Nguyễn Nhựt H1, Nguyễn Lâm H2, Lê Văn H3, Lê Quốc K, Nguyễn Phi L1 phạm tội Gây rối trật tự công cộng được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3.3] Lê Trí B2, Lê Long H7 và Huỳnh Duy T8 có mặt tại hiện trường nhưng không tham gia đánh nhau, cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là phù hợp. Riêng đối với các đối tượng còn lại có dấu hiệu đồng phạm. Tuy nhiên, Phạm Văn C2, Lê Hoàng L4, Dương Minh K1 không có mặt tại địa phương; Nguyễn Ngọc H6, Ngàn, P3, T9, T10, L5, L3, T11 chưa xác định được lai lịch, nhân thân, địa chỉ. Do đó, chưa xem xét xử lý trong vụ án này là phù hợp, đề nghị Viện kiểm sát, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
[3.4] Luật sư bào chữa có nêu quan điểm: hành vi của các bị cáo nhóm Út E có dấu hiệu tội Cố ý gây thương tích đối với Lê Văn H3. HĐXX nhận thấy, bị cáo H3 khai có bị thương do nhóm của Út E gây ra; kết luận giám định là 15%. Tuy nhiên, sau khi đánh nhau bị cáo H3 không đến cơ quan y tế điều trị nên không có bệnh án; việc giám định dựa trên lời khai nên chưa đủ cơ sở xác định thương tích của H3 là xảy ra trong ngày đánh nhau. Vả lại, lúc các bên đánh nhau rất đông người, bị cáo H3 cũng không xác định được ai gây thương tích và cũng chưa đủ cơ sở xác định thương tích của H3 là do người của nhóm Út E gây ra. Do đó, Viện kiểm sát xác định các bị cáo phạm tội Gây rối trật tự công cộng mà không xác định tội Cố ý gây thương tích là có cơ sở.
[4] Về hình phạt:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng. Chỉ vì muốn giải quyết mâu thuẫn cá nhân mà các bị cáo đã đuổi đánh nhau. Hành vi của các bị cáo không chỉ gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội mà còn gây thiệt hại về quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hành vi đó đã vi phạm các quy tắc sống lành mạnh, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mọi người ở nơi công cộng; ảnh hưởng lớn đến quản lý trật tự, trị an ở địa phương và gây ra sự bất bình, bức xúc trong dư luận của quần chúng nhân dân nên cần xử lý các bị cáo một mức án nghiêm nhằm răn đe bị cáo và giáo dục mọi người có ý thức và lựa chọn cách xử sự phù hợp pháp luật khi giải quyết mâu thuẫn cá nhân; tuân theo nếp sống văn minh tại nơi công cộng.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lâm Văn P2, để khắc phục hậu quả từ hành vi đánh nhau tại quán của ông P2; riêng bị cáo P, Phụng E1, Út E, G, H1, H2 và L1 có thân nhân là người có công với cách mạng. HĐXX xác định đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhưng đã phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, nên cần xử phạt các bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội các bị cáo đã gây ra, nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Khi quyết định hình phạt thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã thật sự ăn năn hối cải; trừ bị cáo H3, các bị cáo còn lại đều có nhân thân tốt, mới lần đầu phạm tội. Vì vậy, HĐXX thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố, xét xử nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về trách nhiệm dân sự, các bị cáo đã bồi thường xong cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông P2, ông P2 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì thêm nên không xem xét.
[6] Về vật chứng, công cụ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về án phí, các bị cáo Nguyễn Út E, Trần Văn G, Nguyễn Văn P, Nguyễn Phụng E1, Nguyễn Nhựt H1, Nguyễn Lâm H2, Lê Văn H3, Lê Quốc K, Nguyễn Phi L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Út E, Trần Văn G, Nguyễn Văn P, Nguyễn Phụng E1, Nguyễn Nhựt H1, Nguyễn Lâm H2, Lê Văn H3, Lê Quốc K, Nguyễn Phi L1 phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
- 1.1- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Út E 06 (sáu) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 18/12/2023 đến ngày 17/5/2024.
- 1.2- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn G 06 (sáu) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 18/12/2023 đến ngày 17/5/2024.
- 1.3- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn H3 06 (sáu) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 21/12/2023 đến ngày 20/5/2024.
- 1.4- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phụng E1 04 (bốn) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 18/12/2023 đến ngày 25/3/2024.
- 1.5- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 03 (ba) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 18/12/2023 đến ngày 12/01/2024.
- 1.6- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt H1 03 (ba) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
- 1.7- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Lâm H2 03 (ba) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
- 1.8- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quốc K 03 (ba) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
- 1.9- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phi L1 03 (ba) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự, không xem xét.
- Về vật chứng, căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) thanh kim loại hình trụ dài 200cm, đường kính 2,7cm.
- - 01 (một) thanh kim loại có kích thước (151 x 03 x 06)cm.
- - 01 (một) thanh kim loại có kích thước (84 x 03 x 06)cm.
- - 01 (một) thanh kim loại có kích thước (73 x 03 x 06)cm.
- - 01 (một) cây dao tự chế bằng kim loại có tổng chiều dài 93cm, lưỡi dao nơi rộng nhất là 04cm, mũi dao nhọn.
- - 01 (một) cây dao tự chế bằng kim loại có tổng chiều dài 85cm, lưỡi dao nơi rộng nhất là 03cm, mũi dao nhọn.
- - 01 (một) cây dao tự chế, cán gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, tổng chiều dài 63cm, lưỡi dao nơi rộng nhất là 04cm, mũi dao nhọn.
- - 01 (một) cây bẻ răng cào bằng kim loại dài 72cm.
- - 01 (một) cây cơ đánh bị da bằng gỗ, bị gãy, chiều dài 141cm.
- - 01 (một) cây cơ đánh bị da bằng gỗ, bị gãy, chiều dài 102cm.
- - 01 (một) cây cơ đánh bị da bằng gỗ, bị gãy, chiều dài 72cm.
- - 01 (một) cây cơ đánh bị da bằng gỗ, bị gãy, chiều dài 69cm.
- - 01 (một) đoạn đầu thanh cơ đánh bi da, bằng gỗ, chiều dài 72cm.
- - 01 (một) đoạn đầu thanh cơ đánh bi da, bằng gỗ, chiều dài 70cm.
- - 01 (một) đoạn đầu thanh cơ đánh bi da, bằng gỗ, chiều dài 69,5cm.
- - 01 (một) thanh cơ đánh bi da, bằng gỗ, bị gãy, chiều dài 70cm, đường kính rộng nhất 3,2cm, đường kính hẹp nhất 2,2cm.
- - 01 (một) thanh gỗ cạnh vuông có chiều dài 0,97m, chiều dài 02 cạnh là (38 x 25) mm.
- - 01 (một) thanh sắt hình trụ có chiều dài 1,683m, đường kính 27mm.
- - 01 (một) khúc gỗ có cạnh vuông, kích thước (03 x 05 x 70)cm.
- (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 29/QĐ-VKS-AM ngày 13-6-2024 của VKSND huyện An Minh).
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, các bị cáo Nguyễn Út E, Trần Văn G, Nguyễn Văn P, Nguyễn Phụng E1, Nguyễn Nhựt H1, Nguyễn Lâm H2, Lê Văn H3, Lê Quốc K, Nguyễn Phi L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo đều có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 08-8-2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự - gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Út E và đòng bọn Gây rối trật tự công cộng
