TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2024/HS-ST
Ngày 08 - 5 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Hồng Xuyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Mỹ Linh
2. Ông Nguyễn Hoàng Kha
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm – Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/HSST ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Minh T, sinh ngày 10/10/1955; Tên gọi khác: Nguyễn Vi Đ, Nguyễn Phước S, Nguyễn Minh H, Trần Hữu T1, Trần Minh T2, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T3; nơi cư trú: Không; Nơi ở: Sống lang thang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên cha Trần Hữu B (đã chết); mẹ là Nguyễn Thị C (đã chết); tiền sự: Không.
Tiền án: 04. Ngày 15/11/1991 bị TAND thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Giả mạo giấy chứng nhận và Cướp tài sản công dân”; Ngày 25/01/1999 bị TAND thành phố Cần Thơ xử phạt 05 tháng 05 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”; Ngày 14/8/2000 bị TAND thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Giả mạo giấy chứng nhận của cơ quan Nhà nước và Trộm cắp tài sản”; Ngày 13/11/2019 bị TAND thành phố Đà Lạt xét xử tại bản án số 159/2019/HSST xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 05/11/2021.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/12/2023 đến ngày 18/12/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C. (Có mặt)
- Bị hại: Anh Hồ Hoàng H1, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 08/12/2023, Trần Minh T đi xe khách từ thị xã B, tỉnh Vĩnh Long xuống thành phố C tìm tài sản để trộm, T chuẩn bị sẵn 01 cây kềm và 01 cây vít giấu trong người mục đích dùng để cạy khóa cửa. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T đi vào Nhà Khách Công đoàn tỉnh Cà Mau, địa chỉ số I, đường L, khóm B, phường E, thành phố C đứng trước quầy lễ tân giả vờ làm khách thuê phòng để trộm cắp tài sản.
Đến khoảng 17 giờ 30 phút, quan sát thấy khách thuê phòng số 209 là anh Hồ Hoàng H1 gửi chìa khóa cho lễ tân. Xác định phòng 209 không có người trong phòng nên T dùng cây vít mang theo cạy khóa cửa phòng lấy trộm tài sản của anh H1 gồm: 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu bạc bỏ vào trong áo trước bụng; 01 điện thoại di động Vsmax màu xanh; 01 bộ tay nghe B1 bỏ vào trong túi quần rồi đi ra khỏi nhà khách đi về hướng trạm xe buýt trước công viên H thì bị Lê Minh T4 là nhân viên bảo vệ nhà khách phát hiện đuổi theo bắt quả tang cùng tang vật gồm: 01 máy tính xách tay hiệu D1.I – core i5 5200U,Ram 8GB, ổ cứng 1000GB, màn hình 15,6 inch; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart; 01 bộ tay nghe hiệu Xiaomi. Ngoài ra còn thu giữ trong người của T 01 cây kềm màu đen; 01 cây vít cán nhựa màu xanh mũi dẹp, dài 21cm.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 122/KL-HDĐGTS ngày 12/12/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu Dell, I – core i5 5200U, Ram 8GB, ổ cứng 1000GB, màn hình 15,6 inch, đã qua sử dụng có giá là 3.000.000đ; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart, đã qua sử dụng có giá là 800.000đ; 01 bộ tay nghe hiệu Xiaomi, đã qua sử dụng có giá là 200.000đ. Tổng giá trị tài sản là 4.000.000đ.
Vật chứng tạm giữ và xử lý trong vụ án: Đối với 01 máy tính xách tay hiệu Dell, I – core i5 5200U, Ram 8GB, ổ cứng 1000GB, màn hình 15,6 inch; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart; 01 bộ tay nghe hiệu Xiaomi, tất cả đều đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại là anh Hồ Hoàng H1 và hiện ông H1 không yêu cầu gì thêm.
Vật chứng, tài sản còn lại chưa xử lý (đang nhập kho vật chứng chờ xử lý) gồm: 01 cây kềm màu đen; 01 cây vít cán nhựa màu xanh mũi dẹp, dài 21cm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hồ Hoàng H1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 cây kềm màu đen; 01 cây vít cán nhựa màu xanh mũi dẹp, dài 21cm, tất cả đều đã qua sử dụng. Về trách nhiệm dân sự: Không có.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận lời khai trong quá trình điều tra là do tự nguyện khai, không bị ép buộc hay bị bức cung hoặc dùng nhục hình. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên. Đồng thời, bị cáo xác định Cáo trạng truy tố không oan sai, đúng với hành vi bị cáo. Bị cáo đã biết lỗi của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh T khai nhận: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/12/2023, tại Nhà khách Công đoàn tỉnh Cà Mau, địa chỉ số I đường L, khóm B, phường E, thành phố C, Trần Minh T đã cạy cửa phòng 209 lấy trộm tài sản của anh Hồ Hoàng H1 gồm 01 máy tính xách tay hiệu Dell,I core i5 5200U,Ram 8GB, ổ cứng 1000GB, màn hình 15,6 inch; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart; 01 bộ tay nghe hiệu Xiaomi. Tổng giá trị tài sản là 4.000.000đồng thì bị bảo vệ nhà khách phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật.
Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người bị hại được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức và biết được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lười lao động, tham lam, muốn hưởng lợi nên bị cáo cố tình thực hiện.
Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo phạm tội và bị kết án nhiều lần, tại Bản án số 159/2019/HS-ST của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xác định bị cáo đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích, sau khi chấp hành án xong tái hòa nhập cộng đồng lẻ ra bị cáo phải biết ăn năn, hối cải không tiếp tục phạm tội nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Hành vi của bị cáo nêu trên đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn gây mất an ninh trật tự, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần có mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi bị cáo đã gây ra nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm.
Tuy nhiên khi lượng hình có xem xét: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản đã trả lại toàn bộ cho bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
Với đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có cơ sở nên được xem xét chấp nhận.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với các tài sản gồm: 01 máy tính xách tay hiệu Dell,I – core i5 5200U,Ram 8GB, ổ cứng 1000GB, màn hình 15,6 inch; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart; 01 bộ tay nghe hiệu Xiaomi, tất cả đều đã qua sử dụng đã được Cơ quan điều tra xử lý nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Đối với 01 cây kềm màu đen; 01 cây vít cán nhựa màu xanh mũi dẹp, dài 21cm, tất cả đã qua sử dung là dụng cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Xử phạt bị cáo Trần Minh T 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 09/12/2023.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây kềm màu đen; 01 cây vít cán nhựa màu xanh, mũi dẹp, dài 21cm, đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (chưa nộp).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Hồng Xuyên |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản
