Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc



Bản án số: 76/2024/DS-ST

Ngày: 07/8/2024

V/v: Yêu cầu công nhận di chúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Thành
  2. Ông Trần Văn Vinh

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa:

Bà Tô Thu Thủy - Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 10/2024/TLST-DS ngày 05/02/2024 về việc: “Yêu cầu công nhận di chúc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-DS ngày 18/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1962 (có mặt)

Trú tại: Cụm C, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông M: Luật sư Ngô Văn V, Văn phòng L5 và Cộng sự (có mặt)

Địa chỉ: số A, ngõ A, N, phường N, quận L, Hà Nội

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1957 (có mặt)

Trú tại: Cụm C, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Cung Văn G, sinh năm 1954 (chồng bà L) (xin vắng mặt)
  2. Trú tại: Thôn Kim Lũ, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, Hà Nội

  3. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959 (có mặt)
  4. Trú tại: Cụm C, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội

  5. Ông Nguyễn Ngọc C (chồng bà P)
  6. Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1990 (con bà P)
  7. Anh Nguyễn Ngọc Tý T1, sinh năm 2000 (con bà P)
  8. Cùng trú tại: Cụm C, thôn Q, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội

  9. Cụ Quán Thị T2, sinh năm 1927 (mẹ đẻ của ông Q) (xin vắng mặt)
  10. Trú tại: Xóm A, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội

  11. Chị Đỗ Thị Q1, sinh năm 1989 (con bà P1, ông Q)
  12. Anh Đỗ Văn K, sinh năm 1992 (con bà P1, ông Q)
  13. Cùng trú tại: Cụm C, thôn Q, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội

  14. Bà Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm 1972 (có mặt)
  15. Trú tại: Cụm C, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội

  16. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1974 (có mặt)
  17. Trú tại: thôn C, xã T, huyện T, Hà Nội

Đại diện ủy quyền của bà N, anh T, anh T1, ông C, anh K, chị Q1, bà H, bà N1: ông Nguyễn Văn M (có mặt) (Văn bản ngày 10/4/2024)

  1. Anh Nguyễn Trung K1, sinh năm 1982 (có mặt)
  2. Anh Nguyễn Hoàng H1, sinh năm 1989 (có mặt)
  3. Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1985 (có mặt)
  4. Cùng trú tại: cụm C, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội

  5. Anh Nguyễn Văn L1 (con ông M) (có mặt)
  6. Chị Nguyễn Thị L2 (con ông M) (có mặt)
  7. Cháu Trịnh Đức P2 (con chị L2)
  8. Cháu P2 do chị L2 giám hộ.

    Cùng trú tại: cụm C, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội

  9. Ông Dương Dân P3, sinh năm 1976
  10. HKTT: Tổ A, Phường T, quận H, Hà Nội

    Đại diện ủy quyền: bà Nguyễn Thu H2, sinh năm 1976 (có mặt)

    (Giấy ủy quyền ngày 05/6/2024)

  11. Bà Nguyễn Thu H2, sinh năm 1976
  12. HKTT: Thôn C, xã T, huyện T, Hà Nội

    Đại diện ủy quyền: ông Nguyễn Thế C2, sinh năm 1967 (có mặt)

    Địa chỉ: Thôn Á, xã A, huyện M, Hà Nội

    (Giấy ủy quyền ngày 27/5/2024)

    Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà H2: Ông Nguyễn Tiến T3, Luật sư thuộc Công ty L6 (có mặt)

    Địa chỉ: P, phố T, phường T, quận Đ, Hà Nội

  13. Văn phòng C3 (tên cũ: Văn phòng C4) (xin vắng mặt)
  14. Địa chỉ: Số F, đường N, thị trấn V, huyện T, Hà Nội

    Đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị L3, Trưởng Văn phòng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn M, ông M đồng thời là đại diện ủy quyền của những người có quyền, nghĩa vụ liên quan là bà N, anh T, anh T1, ông C, anh K, chị Q1, bà H, bà N1; và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông M trình bày:

Cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Nguyễn Thị T5 có 08 người con, lần lượt là: bà Nguyễn Thị L4, sinh năm 1955 (chết khoảng năm 1982, có chồng là ông Cung Văn G); ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1957, bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959, ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1962, bà Nguyễn Thị P4, sinh năm 1965 (chết năm 2014, bà P4 có chồng là ông Nguyễn Ngọc C; bà P4, ông C có 02 con là anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1990 và anh Nguyễn Ngọc Tý T1, sinh năm 2000); bà Nguyễn Thị P5, sinh năm 1967 (chết năm 2013, bà P5 có chồng là ông Đỗ Văn Q2, chết năm 2018; ông Q2 có mẹ là cụ Quán Thị T2, sinh năm 1927; bà P5, ông Q2 có 02 con là chị Đỗ Thị Q1, sinh năm 1989 và anh Đỗ Văn K, sinh năm 1992); bà Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1974. Ngoài ra, cụ T4, cụ T5 không còn người con chung, con nuôi, con riêng nào khác.

Cụ T4, cụ T5 có khối tài sản chung là thửa đất số 32, tờ bản đồ số 26 đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/12/2003 mang tên cụ Nguyễn Văn T4; và thửa đất số 50, tờ bản đồ số 26 đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/12/2003 mang tên cụ Nguyễn Văn T4.

Ngày 07/6/2012, cụ T4 đã lập Di chúc tại UBND xã V, được UBND xã chứng thực với nội dung:

  • Di chúc cho ông B toàn bộ thửa đất số 32, tờ bản đồ 26;
  • Di chúc cho ông M 148m2 thuộc một phần thửa đất số 50, tờ bản đồ 26;
  • Còn lại 24m2 thuộc thửa đất số 50, tờ bản đồ 26 vẫn để tên cụ T4, sau khi cụ chết sẽ để làm nơi thờ cúng.

Di chúc trên có 02 người làm chứng là ông Vũ Văn H3, sinh năm 1965; trú tại: Cụm C, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội và ông Vũ Văn T6, sinh năm 1963, Phó Chủ tịch UBND xã V tại thời điểm lập di chúc.

Ngày 03/11/2012, cụ T4 chết.

Ngày 05/9/2015, cụ T5 đã lập Di chúc tại Văn phòng C4, số công chứng 1634/2015/DC quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD với nội dung: Cụ T5, cụ T4 có tài sản chung là thửa đất số 50, tờ bản đồ 26. Cụ T5 được quyền sử dụng ½ thửa đất trên và kỷ phần thừa kế mà cụ được hưởng từ cụ T4. Cụ T5 di chúc cho ông M được hưởng thừa kế toàn bộ phần quyền sử dụng đất của cụ.

Ngày 16/3/2021, cụ T5 chết.

Ngày 21/10/2023, những người thuộc hàng thừa kế của cụ T4, cụ T5 đã lập “Văn bản thỏa thuận và ủy quyền” tại UBND xã T, ủy quyền cho ông M làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế của cụ T4, cụ T5. Nhưng ông B không tham gia, không ký biên bản, không phối hợp thực hiện di chúc các cụ để lại.

Hiện ở tại thửa đất số 50 gồm có ông M và các con là anh Nguyễn Văn L1, chị Nguyễn Thị L2, cháu Trịnh Đức P2 (con chị L2), ngoài ra không còn ai khác.

Ông M khởi kiện đề nghị Tòa án công nhận di chúc của cụ T4, cụ T5.

Quá trình giải quyết vụ án, ngày 22/4/2024, ông M thay đổi yêu cầu khởi kiện: yêu cầu Tòa án công nhận di chúc của cụ T5 ngày 05/9/2015 lập tại Văn phòng C4, số công chứng 1634/2015/DC quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD.

Để giải quyết vụ án khách quan, triệt để, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự, ông M đã được Tòa án giải thích pháp luật về yêu cầu công nhận di chúc của cụ T4 và di chúc của cụ T5, về ngõ đi vào thửa đất số 50, tờ bản đồ 26. Ông M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là: công nhận di chúc của cụ T5.

* Bị đơn là ông Nguyễn Văn B trình bày:

Ông B xác nhận lời trình bày của ông M về quan hệ huyết thống; xác nhận cụ T4, cụ T5 có khối tài sản chung là thửa đất số 32, tờ bản đồ số 26 đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/12/2003 mang tên cụ Nguyễn Văn T4; và thửa đất số 50, tờ bản đồ số 26 đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/12/2003 mang tên cụ Nguyễn Văn T4. Thửa đất số 50 có nguồn gốc là của ông B mua từ khoảng năm 1976-1977 của cụ K2, khi mua có giấy tờ viết tay nhưng hiện nay đã thất lạc. Cụ K2 cũng đã chết từ lâu. Do thời gian đã lâu nên ông B không còn tài liệu, giấy tờ gì, không có ai làm chứng cho việc ông là người mua đất của cụ K2. Sau khi mua đất, ông B để cho cụ T4, cụ T5 đứng tên trên thửa đất. Thửa đất này khi đó không có ngõ đi, vì giáp với thửa đất số 32 nên đi qua thửa đất 32. Từ đó đến nay, thửa đất số 50 vẫn đang đi chung ngõ, đi nhờ qua thửa đất số 32.

Khi cụ T4 lập di chúc, ông B có biết. Thửa đất số 50 là của ông mua cho cụ T4 đứng tên, cụ T4 lại di chúc cho ông M, nhưng khi đó, ông B không có ý kiến gì vì các anh em trong gia đình lúc đó chưa mâu thuẫn nhau nên ông B đồng ý với nội dung di chúc. Thửa đất này trước đây là đất trống, không có công trình gì.

Khoảng năm 1983-1984, ông B xây nhà cấp 4, 3 gian, lợp ngói trên thửa đất, trong đó có 1 gian nhà thờ, còn 2 gian cho vợ chồng ông M ở từ đó đến nay.

Khoảng năm 2002, do cụ T4 là người có công với cách mạng, nên Nhà nước đã cho cụ T4 tiền để xây nhà tình nghĩa. Cụ T4 đã phá gian nhà thờ và xây nhà tình nghĩa, hiện nhà tình nghĩa đang thờ cúng các cụ. Phần gian nhà thờ này thuộc 24m2 mà cụ T4 di chúc để làm nhà thờ. Khoảng năm 2020, con ông M là anh Nguyễn Văn L1 xây thêm nhà ngang cấp 4.

Hiện ở tại thửa đất này có ông M và các con là anh Nguyễn Văn L1, chị Nguyễn Thị L2, ngoài ra không còn ai khác.

Ngày 03/11/2012, cụ T4 chết.

Ngày 16/3/2021, cụ T5 chết.

Ngày 21/10/2023, những người thuộc hàng thừa kế của cụ T4, cụ T5 đã lập “Văn bản thỏa thuận và ủy quyền” tại UBND xã T, ủy quyền cho ông M làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế của cụ T4, cụ T5. Nhưng ông B không tham gia, không ký biên bản.

Sau khi cụ T5 chết, các chị em gái và ông M nảy sinh mâu thuẫn với ông B, có thái độ không tôn trọng ông B, nên nay ông B không đồng ý với nội dung di chúc của các cụ.

Ngày 05/9/2015, cụ T5 đã lập Di chúc tại Văn phòng C4, số công chứng 1634/2015/DC quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD với nội dung: Cụ T5, cụ T4 có tài sản chung là thửa đất số 50, tờ bản đồ 26. Cụ T5 được quyền sử dụng ½ thửa đất trên. Cụ T5 di chúc cho ông M được hưởng thừa kế toàn bộ phần quyền sử dụng đất của cụ. Ông B biết việc cụ T5 lập di chúc và nội dung di chúc, lúc đó anh em trong gia đình chưa có mâu thuẫn nên ông B đồng ý với nội dung di chúc, không có ý kiến gì. Quá trình giải quyết vụ án, ông B thay đổi lời khai, ông cho rằng ngoài bản di chúc của cụ T4, cụ T5, ông B không biết cụ T5 còn di chúc nào khác.

Nay ông M khởi kiện đề nghị công nhận di chúc của cụ T5 thì ông B không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông M.

Đối với thửa đất số 32, ông B đã làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sau đó đã tặng cho các con, sau đó, thửa đất cũng biến động nhiều lần. Hiện ở tại nhà đất này gồm có anh Nguyễn Hoàng H1, sinh năm 1989 và gia đình mua đất là ông Dương Dân P3, bà Nguyễn Thu H2.

* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan, ông Cung Văn G trình bày:

Ông G là chồng của bà Nguyễn Thị L4, sinh năm 1955. Năm 1981, bà L4 chết, khi chết không để lại di chúc gì. Khi đó do không hiểu biết pháp luật, ông G không làm đăng ký khai tử cho bà L4. Ông G và bà L4 có 02 người con chung nhưng đều chết non, không đăng ký khai sinh, khai tử gì. Nay ông G được biết gia đình bà L4 đang có tranh chấp về chia thừa kế, ông G không liên quan gì nên ông không tham gia tố tụng tại tòa, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông.

* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan, cụ Quán Thị T2 trình bày:

Cụ T2 là mẹ chồng của bà Nguyễn Thị P5. Cụ không liên quan gì đến việc các anh em trong gia đình bà P5 khởi kiện về di chúc. Trường hợp được chia hưởng thừa kế thì cụ T2 từ chối nhận. Cụ không liên quan gì nên đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt.

* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan, anh Nguyễn Trung K1 trình bày:

Anh xác nhận lời trình bày của ông B về quan hệ huyết thống, nguồn gốc đất và quá trình quản lý, sử dụng thửa đất.

Ngày 16/7/2015, anh K1 đã được ông B tặng cho 46m2 thuộc một phần thửa đất số 32, tờ bản đồ 26. Sau đó, ngày 07/8/2015, anh đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất trên, là thửa số 32-1, tờ bản đồ 26.

Ngày 23/02/2022, anh đã tặng cho toàn bộ thửa 32-1 cho em trai là anh Nguyễn Văn C1. Anh C1 đã được xác nhận là chủ sử dụng đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau đó, anh được biết, năm 2023, anh C1 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên cho ông P3, bà H2. Ông P3, bà H2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng thửa đất ổn định đến nay.

Về việc ông M yêu cầu công nhận di chúc của cụ T5, quan điểm của anh K1 là không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông M.

* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan, anh Nguyễn Hoàng H1 trình bày:

Anh xác nhận lời trình bày của ông B về quan hệ huyết thống, nguồn gốc đất và quá trình quản lý, sử dụng thửa đất.

Anh được biết, năm 2015, anh K1 đã được ông B tặng cho 46m2 thuộc một phần thửa đất số 32, tờ bản đồ 26. Anh K1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất trên, là thửa số 32-1, tờ bản đồ 26. Sau đó, anh K1 đã tặng cho toàn bộ thửa 32-1 cho anh Nguyễn Văn C1. Anh C1 đã được xác nhận là chủ sử dụng đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2023, anh C1 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên cho ông P3, bà H2. Ông P3, bà H2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng thửa đất ổn định đến nay.

Ngày 22/12/2021, anh H1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 372, tờ bản đồ 66, diện tích 104m2 (số tờ, số thửa cũ là: thửa số 32, tờ bản đồ 26) do bố anh là ông B tặng cho anh. Anh đã xây nhà và ở ổn định tại thửa đất này.

Thửa đất số 50 không có ngõ đi và hiện đang đi qua phần đất nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh.

Về việc ông M yêu cầu công nhận di chúc của cụ T5, quan điểm của anh H1 là không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông M.

* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan, anh Nguyễn Văn C1 trình bày:

Anh xác nhận lời trình bày của ông B về quan hệ huyết thống, nguồn gốc đất và quá trình quản lý, sử dụng thửa đất.

Ngày 16/7/2015, anh K1 đã được ông B tặng cho 46m2 thuộc một phần thửa đất số 32, tờ bản đồ 26. Sau đó, ngày 07/8/2015, anh đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất trên, là thửa số 32-1, tờ bản đồ 26.

Ngày 23/02/2022, anh K1 đã tặng cho toàn bộ thửa 32-1 cho anh C1. Anh C1 đã được xác nhận là chủ sử dụng đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 23/6/2023, anh C1 chuyển nhượng thửa đất trên cho ông P3, bà H2. Việc chuyển nhượng được các bên lập thành văn bản công chứng tại Văn phòng C4. Anh C1 không còn quyền, nghĩa vụ gì liên quan đến thửa đất trên.

Về việc ông M yêu cầu công nhận di chúc của cụ T5, quan điểm của anh C1 là không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông M.

* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan, anh Nguyễn Văn L1, chị Nguyễn Thị L2 thống nhất trình bày:

Anh chị là con ruột của ông M. Anh chị hiện đang ở tại thửa đất số 50, tờ bản đồ 26 tại xã V, huyện T, Hà Nội. Anh chị chỉ ở tại đây, không có công sức, đóng góp gì. Anh chị được biết, nguồn gốc thửa đất này là cụ T4, cụ T5 để lại di chúc cho ông M.

Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M, công nhận di chúc của cụ T5.

* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan, ông Dương Dân P3, bà Nguyễn Thu H2, ông P3 ủy quyền cho bà H2, ông Nguyễn Thế C2 đại diện ủy quyền cho bà H2 và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà H2 trình bày:

Ngày 23/6/2023, ông P3, bà H2 đã nhận chuyển nhượng của anh Nguyễn Văn C1 46m2 đất thuộc thửa đất số 32-1, tờ bản đồ 26 tại Cụm C, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội. Việc chuyển nhượng được các bên lập thành văn bản công chứng tại Văn phòng C4.

Ngày 05/7/2023, ông P3, bà H2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên và quản lý, sử dụng ổn định đến nay. Thửa đất 32-1 không sử dụng lối đi nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh H1, mà chỉ sử dụng ngõ đi chung ra xóm.

Nay có việc gia đình ông M, ông B khởi kiện yêu cầu công nhận di chúc của cụ T5 đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ 26 thì đề nghị Tòa án không tiếp tục hòa giải và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Ông P3, bà H2 không liên quan đến di chúc và việc sử dụng ngõ đi.

* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng C3 trình bày:

Ngày 05/9/2015, Văn phòng C4 (nay Văn phòng C3) đã nhận được yêu cầu công chứng di chúc của bà Nguyễn Thị T5. Bà Nguyễn Thị T5 đã xuất trình đầy đủ các giấy tờ theo quy định của pháp luật và công chứng viên đã tiếp nhận yêu cầu công chứng hợp lệ. Do bà Nguyễn Thị T5 không viết được nên công chứng viên yêu cầu bà Nguyễn Thị T5 mời người làm chứng là ông Trương Văn T7.

Bà Nguyễn Thị T5 đã được nghe công chứng viên đọc và giải thích rõ nội dung của Di chúc, quyền lợi nghĩa vụ và hậu quả pháp lý của việc lập Di chúc này. Tại thời điểm công chứng, trước sự chứng kiến của công chứng viên và người làm chứng, bà Nguyễn Thị T5 hoàn toàn đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, tự nguyện, không bị ai lừa dối, ép buộc. Bà Nguyễn Thị T5 đã cam đoan việc lập di chúc này là hoàn toàn tự nguyện, thể hiện đúng và đầy đủ ý nguyện của bà Nguyễn Thị T5. Di chúc nêu trên đã được phát hành số công chứng: 1634/2015/DC, quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/9/2015 tại văn phòng C4 (nay là Văn phòng C3) thành phố Hà Nội, được luật định và hoàn toàn phù hợp với quy pháp luật.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

  • - Các đương sự giữa nguyên quan điểm như đã trình bày. Anh K1 có ý kiến cho rằng cụ T5 không minh mẫn, tỉnh táo khi lập di chúc; người làm chứng trong di chúc có tiền sử bệnh tâm thần nên không đủ điều kiện làm chứng; điểm chỉ trong di chúc không xác định được có phải điểm chỉ của cụ T5 hay không nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • - Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông M có ý kiến: Di chúc của cụ T5 lập ngày 05/9/2015 tại Văn phòng C4 là đúng quy định pháp luật về nội dung, hình thức, chủ thể lập di chúc nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • - Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà H2 có ý kiến: Tại đơn khởi kiện ban đầu, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận di chúc liên quan đến thửa đất số 32, 50, tờ bản đồ 26. Tuy nhiên, sau đó nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu khởi kiện, nên không còn liên quan đến thửa đất số 32. Do đó, ông P3, bà H2 không còn liên quan đến vụ án. Đồng thời, ông P3, bà H2 cũng không sử dụng lối đi chung của hai thửa đất. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xác định ông P3, bà H2 không phải là người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì có quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự. Các đương sự chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Di chúc của cụ T5 lập ngày 05/9/2015 tại Văn phòng C4, số công chứng 1634/2015/DC quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD liên quan đến thửa đất số 50, tờ bản đồ 26 là đúng quy định pháp luật về nội dung, hình thức di chúc; cụ T5 lập di chúc trong tình trạng hoàn toàn minh mẫn, tỉnh táo, không bị cưỡng ép. Quy trình lập di chúc đúng quy định về việc công chứng. Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận di chúc của cụ T5.

Ông P3, bà H2 nhận chuyển nhượng một phần thửa đất số 32, tờ bản đồ 26 và giáp phần lối đi chung của các bên. Mặc dù ông P3, bà H2 có lời khai về việc không sử dụng lối đi này, nhưng các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên vẫn cần đưa ông P3, bà H2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền, nghĩa vụ liên quan để dành quyền khởi kiện cho các đương sự trong vụ án khác khi có yêu cầu.

Bị đơn là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, các chứng cứ và tài liệu do các đương sự xuất trình, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

1.1. Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận di chúc của cụ T5 lập ngày 05/9/2015 tại Văn phòng C4, số công chứng 1634/2015/DC quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là yêu cầu công nhận di chúc, đây là tranh chấp về dân sự theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là ông Nguyễn Văn B có nơi cư trú tại: Cụm C, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.3. Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, đại diện Văn phòng C4 (Nay là Văn phòng C3) đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự trên.

[2] Nội dung vụ án:

2.1. Về việc lập di chúc của cụ T5 và hình thức di chúc:

Cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Nguyễn Thị T5 có 08 người con, lần lượt là: bà Nguyễn Thị L4, ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị P4, bà Nguyễn Thị P5, bà Nguyễn Thị Xuân H và bà Nguyễn Thị N1. Ngoài ra, cụ T4, cụ T5 không còn người con chung, con nuôi, con riêng nào khác.

Cụ T4, cụ T5 có khối tài sản chung là thửa đất số 32, tờ bản đồ số 26 đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/12/2003 mang tên cụ Nguyễn Văn T4; và thửa đất số 50, tờ bản đồ số 26 đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/12/2003 mang tên cụ Nguyễn Văn T4.

Ngày 07/6/2012, cụ T4 đã lập Di chúc tại UBND xã V.

Ngày 03/11/2012, cụ T4 chết.

Ngày 05/9/2015, cụ T5 đã lập Di chúc tại Văn phòng C4, số công chứng 1634/2015/DC quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD với nội dung: Cụ T5, cụ T4 có tài sản chung là thửa đất số 50, tờ bản đồ 26. Cụ T5 được quyền sử dụng ½ thửa đất trên và kỷ phần thừa kế mà cụ được hưởng từ cụ T4. Cụ T5 di chúc cho ông M được hưởng thừa kế toàn bộ phần quyền sử dụng đất của cụ.

Căn cứ lời khai của Văn phòng công chứng và người làm chứng là ông Trương Văn T7: tại thời điểm công chứng, cụ T5 hoàn toàn đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, tự nguyện, không bị ai lừa dối, ép buộc. Do cụ T5 không biết chữ nên cụ T5 được nghe công chứng viên đọc và giải thích rõ nội dung của Di chúc, quyền lợi nghĩa vụ và hậu quả pháp lý của việc lập Di chúc. Cụ T5 đã cam đoan việc lập di chúc này là hoàn toàn tự nguyện, thể hiện đúng và đầy đủ ý nguyện của bà Nguyễn Thị T5. Toàn bộ quá trình lập di chúc của cụ T5 đều có người chứng kiến là ông Trương Văn T7. Ông T7 là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; không được thừa kế di sản của cụ T5; không có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến di chúc nên đủ điều kiện làm chứng cho việc lập di chúc theo quy định tại Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005. Đồng thời, ông T7 không có quan hệ thân thiết, không mâu thuẫn với bất kỳ ai trong số những người thừa kế của cụ T5 nên lời khai và việc làm chứng của ông T7 là hoàn toàn khách quan.

Các con ông B là anh K1, anh C1, anh H1 cho rằng thời điểm lập di chúc, cụ T5 không còn minh mẫn, tỉnh táo; ông T7 không đủ điều kiện để làm người làm chứng nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Mặt khác, trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 32, tờ bản đồ 26 cho ông B do Văn phòng Đ chi nhánh huyện T cung cấp, có Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế và cho nhận tài sản giữa cụ T5 và ông B lập ngày 10/6/2015 tại Phòng C5 thành phố Hà Nội, cùng khoảng thời gian khi cụ T5 lập di chúc tại Văn phòng C4 là ngày 05/9/2015.

Như vậy, có cơ sở xác định cụ T5 minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Di chúc được lập thành văn bản có người làm chứng được công chứng tại Văn phòng C4 (nay là Văn phòng C3) là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 649, Điều 650, khoản 3 Điều 652, Điều 657 Bộ luật Dân sự năm 2005.

2.2. Về nội dung di chúc của cụ T5:

Về di sản thừa kế của cụ T5: căn cứ Hồ sơ địa chính, Ủy ban nhân dân xã V cung cấp: theo sổ địa chính lập năm 1994, thửa đất số 249, tờ bản đồ 01 có diện tích 140m2 (theo hệ bản đồ đo đạc năm 1986) là đất thổ cư, chủ sử dụng là ông Nguyễn Văn T4, nguồn gốc đất là ông cha để lại, có địa chỉ tại xã V, huyện T, Hà Nội. Theo bản đồ đo đạc năm 1994, thửa đất trên tương ứng với thửa đất số 50, tờ bản đồ 26, diện tích 148m2, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/12/2003 mang tên ông Nguyễn Văn T4. Quá trình giải quyết vụ án, ông B có ý kiến cho rằng thửa đất số 50, tờ bản đồ 26 là do ông mua và cho cụ T4 đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, ông B không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh, đồng thời, ông B biết việc cụ T4 di chúc cho ông M thửa đất trên; thửa đất này vẫn do ông M quản lý, sử dụng từ trước đến nay nhưng ông B không có ý kiến gì nên lời khai của ông B là không có cơ sở. Như vậy, thửa đất số 50, tờ bản đồ 26 là tài sản trong thời kỳ hôn nhân của cụ T4 và cụ T5, nên là tài sản chung vợ chồng của cụ T4, cụ T5. Do đó, cụ T5 có quyền sử dụng ½ thửa đất trên.

Ngày 03/11/2012, cụ T4 chết. Trước khi chết, cụ T4 đã lập di chúc ngày 07/6/2012 tại UBND xã V. Do các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét di chúc của cụ T4 và chia thừa kế đối với di sản của cụ T4, nên trường hợp cụ T5 được hưởng thừa kế của cụ T4, cụ T5 còn được hưởng quyền sử dụng một phần thửa đất số 50, tờ bản đồ 26 là kỷ phần thừa kế mà cụ được hưởng từ cụ T4. Do đó, di sản thừa kế của cụ T5 bao gồm ½ quyền sử dụng thửa đất số 50, tờ bản đồ 26 và kỷ phần thừa kế được hưởng của cụ T4.

Di chúc của cụ T5 có nội dung: “Tôi cùng chồng là ông Nguyễn Văn T4 (sinh năm 1931, đã chết ngày 03/11/2012...) là chủ sử dụng thửa đất tại địa chỉ: xã V, huyện T, thành phố Hà Nội căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 140006; Số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 00558.QSDĐ/2131-H; Số HS: 23011039 do UBND huyện T, thành phố Hà Nội cấp ngày 24/12/2003. Thông tin cụ thể như sau: số tờ bản đồ: 26; số thửa: 50; diện tích: 148m2; mục đích sử dụng: đất ở; thời hạn sử dụng: lâu dài. Theo quy định của pháp luật, phần tài sản thuộc quyền sử dụng của tôi là ½ (một phần hai) quyền sử dụng đất trong khối tài sản chung nêu trên và kỷ phần thừa kế mà tôi được hưởng từ ông Nguyễn Văn T4. Sau khi tôi chết, toàn bộ phần quyền sử dụng đất của tôi nêu trên, tôi để lại quyền hưởng thừa kế cho ông Nguyễn Văn M...”

Như vậy, di chúc của cụ T5 đã xác định về di sản thừa kế, nơi có di sản đúng quy định pháp luật; di chúc còn ghi các nội dung khác về ngày tháng năm lập di chúc, họ tên, nơi cư trú của cụ T5, ông M đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 653 Bộ luật Dân sự 2005. Việc cụ T5 để lại toàn bộ phần quyền sử dụng đất của cụ cho ông M là phù hợp với các quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Từ những phân tích, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy bản Di chúc của cụ Nguyễn Thị T5 đã được cụ T5 lập trong tình trạng minh mẫn, sáng suốt; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 652 Bộ luật Dân sự 2005, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông M về việc công nhận Di chúc của cụ Nguyễn Thị T5, số công chứng: 1634/2015/DC, quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/9/2015 tại văn phòng C4 (nay là Văn phòng C3) thành phố Hà Nội.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự không yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ 26 theo di chúc, nội dung di chúc chỉ xác định về phần quyền sử dụng đất, không xác định về diện tích, kích thước, ranh giới đất của cụ T5 để lại. Vì vậy, các thừa kế có quyền thỏa thuận với nhau để thực hiện di chúc, trường hợp không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ T5 bằng vụ án khác.

Các đương sự không có tranh chấp về di chúc của cụ T4, cụ T5 lập ngày 07/6/2012 tại UBND xã V liên quan đến thửa đất số 32, 50, tờ bản đồ 26 và không yêu cầu về lối đi vào thửa đất số 50, tờ bản đồ 26 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Không chấp nhận các yêu cầu khác của đương sự.

[3] Về án phí:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị đơn là ông Nguyễn Văn B được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Các Điều 646, 647, 648, 649, 650, 652, 653, 654, 656, 657, 658 Bộ luật Dân sự năm 2005;
  • - Các Điều 26, 35, 39, 40, 147, 227, 271, 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M.

Công nhận Di chúc của cụ Nguyễn Thị T5, số công chứng: 1634/2015/DC, quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/9/2015 tại văn phòng C4 (nay là Văn phòng C3) thành phố Hà Nội.

Dành quyền khởi kiện bằng vụ án khác về việc chia thừa kế theo di chúc của cụ T5 khi các thừa kế có yêu cầu.

2. Không chấp nhận các yêu cầu khác của đương sự.

3. Về án phí:

Ông Nguyễn Văn B được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cụ Quán Thị T2, ông Cung Văn G, văn phòng C3 có quyền, kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Trì;
  • - Các bên đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Văn Thắng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM:

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN VĂN THẮNG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/DS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về yêu cầu công nhận di chúc

  • Số bản án: 76/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận di chúc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu công nhận di chúc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger