|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST
Ngày 06/8/2024
“V/v ly hôn,
tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Quốc Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Văn Tài.
- Bà Huỳnh Thị Kim Thơ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thống Nhất - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
Ngày 06/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 144/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/3/2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 325/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Hồ Văn H1, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện T, Đồng Tháp.
(Chị H có mặt; Anh H1 có văn bản xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H1 quen biết nhau từ năm 2006, được gia đình hai bên đồng ý tổ chức đám cưới và được Ủy ban nhân dân xã M cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 17/11/2008. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Hiện nay, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được.
Xét thấy tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên chị Lê Thị H yêu cầu được ly hôn với anh Hồ Văn H1.
- Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung tên Hồ Lê Kim D, sinh ngày 14/02/2009 và Hồ Lê Gia H2, sinh ngày 21/6/2013. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu được ly hôn với anh H1 và yêu cầu được nuôi 02 con chung.
* Bị đơn anh Hồ Văn H1 có văn bản ý kiến trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh H1 thống nhất với lời trình bày của chị H. Nay chị Lê Thị H yêu cầu được ly hôn với anh Hồ Văn H1 thì anh H1 thống nhất ly hôn.
- Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung tên Hồ Lê Kim D, sinh ngày 14/02/2009 và Hồ Lê Gia H2, sinh ngày 21/6/2013. Khi ly hôn, anh H1 đồng ý giao 02 con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc.
- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Hồ Văn H1 và yêu cầu được nuôi 02 con chung; Bị đơn là anh Hồ Văn H1 có địa chỉ cư trú tại ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
[1.2] Về chấp hành pháp luật:
Bị đơn anh Hồ Văn H1 có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H1.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị H và anh H1 tổ chức đám cưới năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M vào ngày 17/11/2008 là phù hợp theo Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, đến nay không thể hàn gắn lại được. Nay do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh H1.
Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án anh H1 có văn bản trình bày ý kiến thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều này, thể hiện tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh H1 đã mâu thuẫn trầm trọng và không thể hàn gắn lại được.
Từ đó, xét yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị H là có căn cứ, anh H1 cũng thống nhất ly hôn, phù hợp theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về con chung:
Chị H trình bày vợ chồng có 02 con chung tên Hồ Lê Kim D, sinh ngày 14/02/2009 và Hồ Lê Gia H2, sinh ngày 21/6/2013. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu nuôi con.
Theo văn bản ý kiến, anh H1 thống nhất chị H được trực tiếp nuôi hai con chung. Mặt khác, cháu Kim D và cháu Gia H2 có nguyện vọng được sống cùng chị H.
Hội đồng xét xử xét thấy, anh H1 và chị H thống nhất chị H được trực tiếp nuôi hai con chung, phù hợp với nguyện vọng của các con chung. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của chị H.
Chị H không có yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Chị H và anh H1 thống nhất trình bày tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Chị H và anh H1 thống nhất trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005451 ngày 21/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Chị H đã nộp đủ.
Anh H1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Hồ Văn H1 thống nhất thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Chị Lê Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung tên Hồ Lê Kim D, sinh ngày 14/02/2009 và Hồ Lê Gia H2, sinh ngày 21/6/2013.
- Về tài sản chung: Chị H và anh H1 thống nhất trình bày tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Chị H và anh H1 thống nhất trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí:
- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu.
Về quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con: Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó theo quy định tại các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Chị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005451 ngày 21/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Chị H đã nộp đủ.
Anh H1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Quốc Thái |
Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H yêu cầu ly hôn với anh H1, yêu cầu được nuôi con.
