Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỚI LAI

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/DS-ST

Ngày: 06/6/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Hoàng Giang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Hồng Hạnh

2. Ông Phan Tấn Lạc

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Võ Tường Vy - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thới Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:257/2023/TLST-DS ngày 23/10/2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:125/2024/QĐXXST-DS ngày 14/3/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 265/2024/QĐST-DS, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H
  • Địa chỉ: B B, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T - Tổng giám đốc.
  • Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T1 - Chuyên viên (theo văn bản ủy quyền ngày 13 tháng 3 năm 2023).
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1948 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, Thành phố Cần Thơ.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Phước H, sinh năm 1977
    2. Bà Lê Thị Diễm T3, sinh năm 1985
  • Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, Thành phố Cần Thơ (xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H - P và ông Nguyễn Văn T2 có ký Hợp đồng tín dụng 52/19PGDÔM/HĐTD ngày 14/6/2019, số tiền vay 100.000.000 đồng, thời hạn vay 48 tháng, mục đích vay bổ sung vốn chăn nuôi, lãi suất 12,5%/năm, lãi suất này cố định trong 03 tháng đầu và điều chỉnh 03 tháng một lần.

Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tổng diện tích 6.125m² tại các thửa đất số 535, 294, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, Thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng số B 570418, số vào sổ cấp GCN 000373 do UBND huyện Ô cấp ngày 25/3/1993 cho ông Nguyễn Văn T2.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi. Tính đến ngày 06/02/2023, tổng số tiền ông T2 còn nợ ngân hàng là 129.327.425 đồng, (trong đó, gốc 100.000.000 đồng, lãi trong hạn 2.672.358 đồng, lãi quá hạn 26.655.067 đồng).

Nay khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T2 trả số nợ tổng cộng là 129.327.425 đồng và lãi quá hạn kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi ông T2 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trong trường hợp ông T2 không trả nợ hoặc trả không hết nợ thì đề nghị phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ.

Bị đơn ông T2 vắng mặt nên không rõ ý kiến.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phước H và Bà Lê Thị Diễm T3 trình bày tại biên bản ghi lời khai: Ông, bà là con ruột và con dâu của ông T2. Hiện tại đang trực tiếp canh tác trên phần đất đã thế chấp cho ngân hàng. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ngân hàng không có ý kiến và không có yêu cầu gì trong vụ án này.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông T2 trả số nợ tổng cộng là 150.159.687 đồng và lãi quá hạn kể từ ngày 07/6/2024 cho đến khi ông T2 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trong trường hợp ông T2 không trả nợ hoặc trả không hết nợ thì đề nghị phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tại phiên tòa: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát cho rằng, giữa các bên có ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đảm bảo cho khoản vay. Nay bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngân hàng khởi kiện là có căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu. Về án phí, chi phí thẩm định bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn đây là vụ án dân sự, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Căn cứ các điều 26, điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thới Lai thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông T2 được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, ông H, bà T3 có yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[3] Giữa Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H - P và ông Nguyễn Văn T2 có ký Hợp đồng tín dụng 52/19PGDÔM/HĐTD ngày 14/6/2019, số tiền vay 100.000.000 đồng. Các chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm: Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp, đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, biên bản bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bảng chi tiết tính lãi..., các chứng cứ này đủ cơ sở khẳng định ông T2 hiện tại còn nợ số tiền như ngân hàng trình bày.

[4] Về tiền lãi: mức lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, đã được các bên thỏa thuận theo hợp đồng, thỏa thuận này phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tính dụng và các quy định pháp luật khác nên chấp nhận số tiền lãi nguyên đơn đã yêu cầu là lãi trong hạn 2.684.384 đồng, lãi quá hạn là 47.487.329 đồng. Ngoài ra, còn buộc bị đơn phải trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 07/6/2024 cho đến khi trả hết nợ.

[5] Hợp đồng thế chấp số 26/19PGDÔM/HĐBĐ ngày 14/6/2019 tuân thủ đúng quy định pháp luật về hình thức và nội dung, có công chứng và đăng ký thế chấp tại cơ quan có thẩm quyền đúng theo quy định của pháp luật. Tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất tổng diện tích 6.125m² tại các thửa đất số 535, 294, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, Thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng số B 570418, số vào sổ cấp GCN 000373 do UBND huyện Ô cấp ngày 25/3/1993 cho ông Nguyễn Văn T2.

Từ những phân tích nêu trên, chứng minh ông T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, về nội dung thoả thuận giữa ông T2 và ngân hàng trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đúng quy định pháp luật nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn.

[6] Về chi phí thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng, số tiền này nguyên đơn đã nộp tạm ứng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền này.

[7] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo qui định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, điều 188, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 299, Điều 323, Điều 463; Bộ luật dân sự 2015, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H.

2. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T2 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 06/6/2024 là 150.159.687 đồng (Một trăm năm mươi triệu, một trăm năm mươi chín ngàn, sáu trăm tám mươi bảy đồng). Ông T2 còn phải trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 07/6/2024 đến khi trả hết nợ.

Trường hợp ông T2 không trả được nợ, thì nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp (theo Hợp đồng thế chấp số 26/19PGDÔM/HĐBĐ ngày 14/6/2019) để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất tổng diện tích 6.125m² tại các thửa đất số 535, 294, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, Thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng số B 570418, số vào sổ cấp GCN 000373 do UBND huyện Ô cấp ngày 25/3/1993 cho ông Nguyễn Văn T2.

3. Về chi phí thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng, số tiền này nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên ông Nguyễn Văn T2 phải có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền 5.000.000 đồng.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn không phải chịu án phí. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 3.233.000 đồng (Ba triệu, hai trăm ba mươi ba ngàn đồng) theo biên lai thu số 0005458 ngày 16/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, Thành phố Cần Thơ.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo. Đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND huyện Thới Lai;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Lai;
  • - Đương sự;
  • - Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Diệp Hoàng Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/DS-ST ngày 06/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, Thành phố Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 76/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, Thành phố Cần Thơ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger