Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM GIÀNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HSST

Ngày: 05/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Tố Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Phương Thuận và bà Hồ Thị Hiên

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Bùi Hoàng Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 73/2024/HSST ngày 17 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/HSST-QĐXX ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Quang T, sinh ngày 15/11/2007; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi sinh và cư trú: Khu A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978 và bà Đỗ Thị C, sinh năm 1982. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 42/QĐ-XPHC ngày 14/3/2023, Công an huyện C xử phạt về hành vi Trộm cắp tài sản, hình thức Cảnh cáo. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/5/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; có mặt tại phiên tòa;
  2. Họ và tên: Mạch Thế Đ, sinh năm 2000; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi sinh và cư trú: Khu C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Mạch Xuân K (đã chết) và bà Lê Thị N, sinh năm 1964. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/5/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; có mặt tại phiên tòa;

* Người giám hộ cho bị cáo T: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978 (là bố đẻ của bị cáo T). Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Khu A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hải Dương; có mặt tại phiên tòa;

* Người bào chữa cho bị cáo T: Bà Nguyễn Thị L – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; có mặt tại phiên tòa;

* Bị hại: Anh Chẻo A S, sinh ngày 27/01/2007. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản N, xã M, huyện S, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Thôn Đ, Thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt và có đơn xin vắng mặt tại phiên toà;

Người đại diện của bị hại: Bà Chẻo Nái C1, sinh năm 1971. Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Bản N, xã M, huyện S, tỉnh Lai Châu và ông Nguyễn Thanh T2 - Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương; đều vắng mặt và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Phạm Văn Đ1, sinh năm 1992. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương.
  2. Anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1991. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn Q, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương.
  3. Anh Vũ Hữu N1, sinh năm 1979. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương.

Đều vắng mặt và có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.

* Người làm chứng:

  1. Cháu Nguyễn Văn S1, sinh ngày 19/12/2008. Người đại diện của cháu S1: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1984.
  2. Cháu Vũ Hoàng A, sinh ngày 14/10/2008. Người đại diện của cháu Hoàng A: Anh Vũ Đăng H, sinh năm 1983.
  3. Cháu Nguyễn Văn H1, sinh ngày 18/8/2007. Người đại diện của cháu H1: Chị Phạm Thị P, sinh năm 1974.
  4. Cháu Nguyễn Trung K1, sinh ngày 14/4/2005.
  5. Cháu Phan Nguyễn Duy H2, sinh ngày 03/4/2008. Người đại diện của cháu H2: Anh Phan Hùng D, sinh năm 1980.
  6. Cháu Nguyễn Ngọc Việt A1, sinh ngày 04/01/2008. Người đại diện của cháu Việt A1: Ông Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1961.
  7. Anh Nguyễn Văn N2, sinh năm 2003.
  8. Anh Dương Nam G, sinh ngày 17/11/2006.
  9. Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1983.

Những người làm chúng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tối ngày 09/5/2024, Nguyễn Quang T, Mạch Thế Đ cùng nhóm bạn gồm các anh: Phan Nguyễn Duy H2, sinh ngày 03/4/2008, Nguyễn Văn S1, sinh ngày 19/12/2008, Vũ Hoàng A, sinh ngày 14/10/2008 đều trú tại thôn C, xã N, huyện C; Nguyễn Trung K1, sinh năm 2005 trú tại thôn C, xã T, huyện C; Nguyễn Văn H1, sinh ngày 18/8/2007 ở khu 3, TT C và Nguyễn Ngọc Việt A1, sinh ngày 04/01/2008 ở thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, rủ nhau đi bộ hóng mát quanh khu vực thị trấn C. Vào khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực ngã tư đường tàu thôn K, thị trấn C thì gặp anh Chẻo A S, sinh ngày 27/01/2007, HKTT: Bản N, xã M, huyện S, tỉnh Lai Châu; chỗ ở: thôn Đ, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh đang đứng cạnh xe mô tô honda Wave không đeo biển kiểm soát. Anh Hoàng A hỏi anh S: “đứng đây làm gì”, anh S trả lời: “đứng đợi H3”. T nhận ra anh S là người đang tán chị Nguyễn Minh H4, sinh năm 2008, ở khu A, thị trấn C (là em họ T) nên T dùng tay đánh vào mặt anh S với mục đích không cho anh S rủ chị H4 đi chơi muộn. Tiếp đó, T lấy một cây chổi đã hỏng ở rìa đường, đập gẫy phần chổi nhựa quét, lấy phần cán chổi làm bằng inox định đánh anh S thì Đ nói “ở đây có camera, đưa nó ra trường cấp 2”. Đ bảo anh Hoàng A, Việt A1 điều khiển xe của anh S chở anh S đến cổng Trường trung học cơ sở thị trấn C thuộc khu A, thị trấn C, còn lại tất cả đi bộ theo sau. Trên đường đi, Đ nói nhỏ với T là lấy xe của anh S, nhưng T không đồng ý vì sợ xe có giấy tờ nên dễ bị phát hiện. Khi đi đến cổng trường, T bắt anh S nằm úp xuống mặt đất, dùng cán chổi bằng inox đánh vào mông, Đ túm tóc và dùng chân đá vào lưng anh S. Các anh H2, S1, Hoàng A, Việt A1, K1, H1 đứng ngoài can ngăn bảo T, Đ đừng đánh anh S nữa nhưng T, Đ không nghe, vẫn tiếp tục đánh. Đến khi anh S kêu đau, khó thở thì T, Đ không đánh nữa và bảo anh S ngồi dậy nói chuyện. Lúc này, chị H4 gọi điện đến máy điện thoại Iphone 11 của anh S, thấy anh S có điện thoại, Đ liền nói nhỏ với riêng T là lấy điện thoại của anh S, T đồng ý. T bảo anh S đưa điện thoại và đọc mật khẩu mở máy, rồi T cầm điện thọai đưa cho Đ, Đ đưa điện thoại cho anh S và bảo anh S nhập mật khẩu để thoát Icloud. Do anh S nhập mật khẩu sai nên Đ dùng tay tát vào mặt anh S, T dùng cán chổi bằng inox vụt vào tay bắt anh S nhập đúng mật khẩu. Khi anh S nhập đúng mật khẩu thì điện thoại báo hệ thống đang bảo trì phải đợi 01 tiếng nữa mới thoát được I, Đ liền lấy điện thoại đưa cho T cất giữ. T vứt cán chổi inox ở bãi đất trống đối diện cổng trường. Do sợ anh S trình báo công an, T dọa đưa anh S lên Công an vì anh S đi xe không đeo BKS và trong máy điện thoại có lưu đoạn video đi xe bốc đầu, nếu không muốn bị đưa lên Công an thì phải đưa điện thoại cho T, anh S đồng ý. TĐ bảo anh S ra chỗ có đèn sáng, T dùng điện thoại của anh S quay lại video có nội dung anh S nói bán điện thoại cho T với giá 3.000.000 đồng. Quay video xong thì trời mưa nên cả nhóm T và anh S vào khu lán xe của UBND thị trấn C để trú mưa. Khi tạnh mưa, TĐ đi ra chỗ khác nói chuyện riêng và thống nhất khi nào T bán được điện thoại của anh S sẽ chia cho Đ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng, cho K1 500.000 đồng vì K1 hay chơi cùng TĐ. Sau đó Đ quay lại cùng T và rủ cả nhóm cùng anh S đi hát karaoke. Lúc đầu anh S không đồng ý, ĐT bảo anh S là đã biết nhau rồi thì đi hát cùng cho vui, sau này có việc gì thì còn giúp đỡ nhau, do vậy anh S đã đồng ý đi hát cùng nhóm T. Nhóm T và anh S thống nhất tiền hát hết bao nhiêu sẽ chia đều cho mọi người cùng đóng góp để trả, nếu không đủ thì tạm thời để lại quán xe của anh S, sau đó mọi người cùng góp tiền vào đưa cho anh S trả quán để lấy xe về. Thống nhất xong, nhóm T và anh S đi đến quán hát karaoke 1983 của chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1983 ở thôn B, xã L, huyện C Đ gọi điện rủ anh Nguyễn Văn N2, sinh năm 2003, ở khu C, thị trấn C đến hát cùng, do bị mệt nên anh N2 về trước. Còn lại nhóm T và anh S tiếp tục hát và uống bia đến khoảng 06giờ ngày 10/5/2024, tổng số tiền hát phải thanh toán là 8.500.000 đồng. Do không có tiền thanh toán, anh S để lại xe, về phòng trọ lấy giấy tờ và BKS xe đưa cho chị X, thống nhất với chị X khi nào có tiền sẽ đến thanh toán và lấy lại xe rồi tất cả đi về. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 10/5/2024, T nhờ anh Dương Nam G, sinh năm 2006, ở khu N, thị trấn C chở đến cửa hàng Đ2 của anh Phạm Văn Đ1, sinh năm 1992, ở thôn L, xã C, huyện C, bán điện thoại của anh S được 3.300.000 đồng, số tiền này T đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 12/5/2024, anh Chẻo A S, Phan Nguyễn Duy H2, Nguyễn Văn S1, Vũ Hoàng A, Nguyễn Trung K1, Nguyễn Văn H1Nguyễn Ngọc V1 Anh có đơn trình báo gửi Công an huyện C, vụ án được điều tra làm rõ.

Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐG-TTHS ngày 24/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện C, kết luận: Tại thời điểm bị hại, 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đen, bản 128Gb, đã qua sử dụng, có giá trị là 3.800.000 đồng.

Ngày 12 và 13/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã quản lý 01 thanh kim loại màu trắng hình trụ tròn, chiều dài 67cm, đường kính 02cm, tại bãi đất trống đối diện cổng Trường trung học cơ sở thị trấn C; 01 xe mô tô honda Wave BKS 25B1-936.87, 01 đăng ký xe mang tên Chẻo A San do chị Nguyễn Thị X giao nộp; 01 điện thoại Iphone 11 do anh Phạm Văn Đ1 giao nộp.

Ngày 20, 29/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C trả anh C2 A San 01 điện thoại Iphone 11; 01 xe mô tô BKS 25B1-936.87 và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Chẻo A.

Vật chứng của vụ án: 01 thanh kim loại màu trắng hiện đang quản lý tại kho vật chứng Công an huyện C cần chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện để xử lý trong giai đoạn xét xử và thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Anh S không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường về dân sự nên trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết. Anh Phạm Văn Đ1 yêu cầu T trả lại số tiền 3.300.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 15/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, truy tố các bị cáo Nguyễn Quang TMạch Thế Đ về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

Quá trình Tòa án chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, ông Triển bố đẻ của bị cáo Nguyễn Quang T đã thay bị cáo tự nguyện hoàn trả cho anh Phạm Văn Đ1, sinh năm 1992. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương số tiền 3.300.000₫ mà anh Đ1 đã mua chiếc điện thoại do bị cáo T cướp của anh S, anh Đ1 nhận đủ và không yêu cầu gì khác đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Quang TMạch Thế Đ và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang TMạch Thế Đ phạm tội “Cướp tài sản”; Về tội danh và hình phạt chính: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo T; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T từ 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng đến 06 (S2) năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 14/5/2024. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đ; đề nghị xử phạt bị cáo Mạch Thế Đ từ 07 (Bẩy) năm 02 (Hai) tháng đến 07 (Bẩy) năm 08 (T5) năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 14/5/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về xử lý vật chúng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu cho tiêu hủy 01 thanh kim loại màu trắng; Về trách nhiệm dân sự: Trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong, nên không đặt ra giải quyết; Về án phí: Áp dụng: Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Nguyễn Quang TMạch Thế Đ phải chịu 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang T: Bà Nguyễn Thị L xác định hành vi của các bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”, điều khoản về tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, chưa phát triển đầy đủ tâm, sinh lý, còn hạn chế về nhận thức pháp luật nên đã vi phạm pháp luật; các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị phù hợp quy định của pháp luật. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo T, cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất từ 05 (N) đến 05 (Năm) 03 (Ba) tháng tù, thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật đối với bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, tiếp tục phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội. Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo T vì bị cáo không có kinh tế riêng và không có thu nhập; Về án phí: Đề nghị HĐXX giải quyết theo pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định các bị cáo có tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với nhau, phù hợp với chính lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, lời khai của người làm chứng, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 09/5/2024, tại khu vực cổng Trường trung học cơ sở thị trấn C, thuộc khu A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Quang TMạch Thế Đ đã dùng chân tay đấm đá và dùng thanh kim loại vụt vào người anh C2 A S, chiếm đoạt của anh S 01 điện thoại iphone 11 trị giá 3.800.000 đồng. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi dùng chân tay đấm đá và sử dụng thanh kim loại là vũ khí làm phương tiện vụt vào người bị hại làm cho anh S lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản của anh S là vi phạm pháp luật hình sự nhưng do lười lao động lại muốn có tiền để tiêu sài nên các bị cáo cố ý thực hiện nên hành vi của TĐ đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý không yên tâm cho nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh xã hội trên địa bàn huyện C, tỉnh Hải Dương. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét vai trò từng bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn các bị cáo cùng thực hiện hành vi, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều khai bị T là người gây sự và dùng tay và thanh kim loại đánh anh S trước, sau khi chiếm đoạt được điện thoại thì đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân nên T giữ vai trò thứ nhất; bị cáo Đ đồng phạm với vai trò là người thực hành.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (được viết tắt là TNHS): Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng thì các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS; Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; tài sản các bị cáo chiếm đoạt không lớn nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. HĐXX cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo. Bị cáo T khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 17 tuổi (16 tuổi, 6 tháng, 6 ngày) nên khi quyết định hình phạt được áp dụng Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự. Theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật hình sự là điều khoản quy định về nguyên tắc xử lý đối người dưới 18 tuổi phạm tội, có lợi cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi phạm tội tương ứng và áp dụng mức án với thời hạn ngắn nhất. Do vậy, HĐXX sẽ áp dụng điều khoản có lợi này để quyết định mức án với thời hạn ngắn nhất và tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo T.

[5] Về hình phạt chính: HĐXX xem xét đánh giá vị trí vai trò, cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cụ thể hóa hình phạt đối với từng bị cáo trong vụ án.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo T là người chưa thành niên phạm tội, bị cáo Đ không có việc làm, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp với quy định của Bộ luật hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

- Ngày 20, 29/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C trả anh C2 A San 01 điện thoại Iphone 11; 01 xe mô tô BKS 25B1-936.87 và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Chẻo A. Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại xã nhận đã nhận lại tài sản đầy đủ và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là anh Phạm Văn Đ1 yêu cầu Nguyễn Quang T trả lại số tiền 3.300.000 đồng mà anh đã ngauy tình mua chiếc điện thoại do phạm tội mà có. Tuy nhiên, quá trình Tòa án chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, ngày 18/7/2024 ông T1 bố đẻ của bị cáo đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị cáo T đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường cho anh Đ1 số tiền 3.300.000đ, anh Đ1 nhận đủ và không yêu cầu gì khác đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 thanh kim loại hình tròn trụ màu trắng là vật dụng các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy theo qui định của pháp luật.

[9] Những vấn đề khác:

- Vào khoảng đầu tháng 5/2024 anh Vũ Hữu N1 là chủ cửa hàng Đ2 tại Khu C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hải Dương khai có mua chiếc điện thoại là tài sản của bị cáo T nhưng sau đó vài ngày, khi bị cáo T đến mua lại chiếc điện thoại trước đó bằng nguồn tiền bán chiếc điện thoại di động mà bị cáo chiếm đoạt được của anh S. Đồng thời, bị cáo đã sử dụng tiền phạm tội mà có để xăm hình ở chân hết 2.000.000₫ tại thôn Q, xã T do anh Nguyễn Hữu T3 là chủ quán thực hiện. Tuy nhiên, anh N1 và anh T3 đều không biết bị cáo T3 sử dụng tiền phạm tội mà có để mua lại điện thoại đã bán cho anh trước đó và xăm hình ở chân. Mặt khác, chiếc điện thoại di động của bị hại đã được cơ quan Công an thu hồi trả lại cho anh S nhận. Ngoài ra, khi bị tạm giam bị cáo T3 đã tác động cho bố đẻ là ông T1 thay bị cáo hoàn trả số tiền 3.300.000₫ cho anh Phạm Văn Đ1, anh Đ1 xác nhận đã nhận đầy đủ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên HĐXX xác định anh Vũ Hữu N1 và anh Nguyễn Hữu T3 không có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gì mà chỉ là người làm chứng trong vụ án đối với bị cáo T3Đ;

- Đối với các anh Phan Nguyễn Duy H2, Nguyễn Văn S1, Vũ Hoàng A, Nguyễn Trung K1, Nguyễn Văn H1Nguyễn Ngọc V1 Anh đều đã có lời nói can ngăn khi các bị cáo T3, Đ đánh anh S, bản thân họ cũng không biết việc Đ, T3 rủ nhau chiếm đoạt điện thoại của anh S. Mặt khác, ngày 12/5/2024 các anh đều đã đến Công an huyện C trình báo sự việc nên không có căn cứ để xử lý đối với những người này;

- Đối với việc anh Dương Nam G được T3 nhờ chở đến cửa hàng Đức Bình M của anh Phạm Văn Đ1 để bán chiếc điện thoại của anh S nhưng anh G và anh Đ1 đều không biết điện thoại do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý;

- Đối với hành vi của Đ, T3 đánh anh S: Anh S chỉ bị bầm tím ngoài da, không phải đi điều trị tại cơ sở y tế nào, anh S đã từ chối đi giám định thương tích và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T3, Đ. Xét, việc từ chối giám định thương tích của bị hại là tự nguyện nên cần chấp nhận, không đặt ra xem xét giải quyết.

[10] Về án phí: Các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 38; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quang T;

Căn cứ áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 38; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Mạch Thế Đ;

Căn cứ áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội đối với các bị cáo.

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang TMạch Thế Đ phạm tội “Cướp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Mạch Thế Đ 07 (Bẩy) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/5/2024.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 05 (Năm) năm 07 (Bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/5/2024.

  3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại hình tròn trụ màu trắng chiều dài 67 cm, đường kính 02 cm, tình trạng: đã bị móp méo. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương ngày 23/7/2024).
  4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo (T, Đ) phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bào chữa và người đại diện hợp pháp cho bị cáo T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người đại diện của bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh Phạm Văn Đ1) vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo phần liên quan trong bản án thời hạn 15 ngày kết từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhân:

  • - Những người tham gia tố tụng,
  • - VKSND huyện Cẩm Giàng,
  • - Công an huyện Cẩm Giàng (CQCSĐT, CQ THA hình sự, Bộ phận HS nghiệp vụ);
  • - Chi cục THADS huyện Cẩm Giàng,
  • - VKSND tỉnh Hải Dương,
  • - Trại tạm giam-Công an tỉnh Hải Dương,
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương,
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I-TA cấp cao tại HN
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VPTA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Trương Thị Tố Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HSST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về cướp tài sản

  • Số bản án: 76/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang Tu + đp "Cướp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger