TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST
Ngày 05/7/2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Giúp Đở
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tấn Lạc
Bà Huỳnh Thuý Liễu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Võ Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 73/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 369/2024/QĐXXST-HN ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1997 (có mặt)
Địa chỉ: Số A ấp Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Tăng Hoàng N, sinh năm 1986 (có mặt)
Địa chỉ: Số A ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02/01/2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T trình bày:
Bà và ông Tăng Hoàng N tự nguyện tiến tới hôn nhân năm 2015, đến năm 2019 thì đăng ký kết hôn và đã được UBND xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/5/2019. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nhưng hai bên đã hàn gắn. Đến 2020 thì tiếp tục phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hoà hợp nên bà và ông N đã ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn được nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với ông Tăng Hoàng N.
Về con chung: Có 02 con chung tên Tăng Thị Minh T1 (nữ), sinh ngày 25/11/2016 và Tăng Thị Khả Á (nữ), sinh ngày 10/8/2019. Hiện nay bà là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu nên yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà xác định không có.
Bị đơn, ông Tăng Hoàng N trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của bà T về quá trình tiến tới hôn nhân. Tuy nhiên, về mâu thuẫn thì bà N trình bày có một phần chưa đúng, nguyên nhân mâu thuẫn cũng một phần là do bà T không quan tâm đến chồng con và thường xuyên nhắn tin với người khác. Vì vậy, nhiều lúc ông uống rượu say về thì nhắc lại chuyện bà T nhắn tin với người lạ nên mới xảy ra chuyện cãi vã. Ông đã nhiều lần khuyên bà T hàn gắn tình cảm vợ chồng để cùng nhau lo cho con, nhưng do gia đình bà T ngăn cản nên bà T không đồng ý hàn gắn. Hiện nay ông vẫn còn tình cảm với bà T nên mong muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng để lo cho con, ông không muốn ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung như bà T trình bày, nếu Toà án giải quyết cho ly hôn thì ông đồng ý giao con chung cho bà T nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con, nếu bà T không nuôi thì giao con lại cho ông nuôi.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông xác định không có.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với bị đơn và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, nếu bị đơn muốn nuôi 02 con chung thì nguyên đơn sẽ giao con cho bị đơn nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung nguyên đơn xác định không có.
Bị đơn thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, nhưng chưa đến mức trầm trọng phải ly hôn nên bị đơn mong muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng để cùng nhau lo cho con. Do không muốn ly hôn nên bị đơn không trình bày ý kiến về việc ai là người nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Căn cứ vào yêu cầu của đương sự và nơi cư trú của bị đơn thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án án nhân dân huyện Thới Lai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời trình bày của đương sự tại tại phiên tòa cho thấy, hôn nhân giữa bà T và ông N là do tự nguyện nên khi về chung sống ông, bà cũng đã có thời gian hạnh phúc đến năm 2016. Sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và kéo dài đến năm 2023 thì mâu thuẫn ngày càng nhiều hơn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau và do ghen tuông vô cớ. Ông, bà cũng đã có thời gian dài sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay và trước đó đã từng có thời gian sống ly thân, nhưng vẫn không tìm ra biện pháp để hàn gắn, đồng thời cả hai đều xác định có mâu thuẫn và những mẫu thuẫn này không thể giải quyết được. Mặt khác, bà T xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, và cũng không muốn tiếp tục hàn gắn để chung sống nữa. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của ông, bà đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa, nếu có kéo dài cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai nên yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông N là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về con chung: Ông, bà có 02 con chung tên Tăng Thị Minh T1 (nữ), sinh ngày 25/11/2016 và Tăng Thị Khả Á (nữ), sinh ngày 10/8/2019. Hiện nay bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng, nguyện vọng của cháu T1 mong muốn sống với mẹ, cháu Khả Á còn nhỏ và giới tính nữ. Vì vậy, để bảo đảm sự ổn định, tránh làm xáo trộn cuộc sống của các cháu nên tiếp tục giao con chung cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T và ông N đều xác định không có nên không xem xét, nếu sau này có phát tranh chấp và có đơn kiện sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
[5] Về án phí hôn nhân: Nguyên đơn phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim T đối với ông Tăng Hoàng N.
2. Về con chung: Giao cháu Tăng Thị Minh T1 (nữ), sinh ngày 25/11/2016 và Tăng Thị Khả Á (nữ), sinh ngày 10/8/2019 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông N không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông N không ai được quyền ngăn cản. Để bảo đảm quyền lợi của trẻ, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà T và ông N đều xác định không có nên không xem xét, nếu sau này có phát tranh chấp và có đơn kiện sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000đồng, bà T phải chịu. Bà T được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000đồng đã nộp theo biên lai thu số 0007602 ngày 22/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ thành án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Giúp Đở |
Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn
