Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ TÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04-9-2024

V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Sơn Thanh Bình.

Ông Nguyễn Minh Tuấn.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Trương Thị Anh Thư là thư ký Tòa án nhân

huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa: Bà

Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 182/2024/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 7 năm 2024 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Bé T;

Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lý D;

Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 7 năm 2024 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lâm Thị Bé T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị Bé T và anh Lý D có tổ chức tiệc cưới vào năm 2010 và đăng ký kết hôn vào ngày 20 tháng 01 năm 2010 tại Uỷ ban nhân dân xã Thuận Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Hôn nhân của chị T và anh D được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, anh chị tìm hiểu nhau một thời gian

thì đi đến hôn nhân. Sau khi kết hôn anh chị sống tại ấp Bố Liên 1, xã Thuận Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống với nhau vui vẻ hạnh phúc, nhưng thời gian về sau vợ chồng anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Khi xảy ra mâu thuẫn anh chị đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được, mâu thuẫn lại tiếp tục xảy ra và anh chị đã sống ly thân từ năm 2011 đến nay. Chị Tnhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh D không hạnh phúc, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài vì không hạnh phúc nên chị yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh Lý D.

Về con chung: Chị Lâm Thị Bé T tự khai trong thời gian chung sống, chị Tvà anh Dcó 01 (một) người con chung là Lâm Thị Bé Phương (Nữ, sinh ngày 21/10/2011), hiện nay cháu Phương đang sống với chị T. Sau khi ly hôn chị Tyêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lâm Thị Bé Phương (Nữ, sinh ngày 21/10/2011) cho đến khi cháu Phương đủ 18 (mười tám) tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi Lâm Thị Bé P (Nữ, sinh ngày 21/10/2011) vì hiện nay chị T có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng cháu Phương.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lâm Thị Bé T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với bị đơn anh Lý D: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn chị Lâm Thị Bé T tại Thông báo thụ lý vụ án số: 305/TB-TLVA, ngày 05 tháng 7 năm 2024 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Lý D, cũng như đã triệu tập hợp lệ anh Dđến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng anh Dđều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Dnhưng anh Dkhông gửi văn bản ghi ý kiến của anh Dđối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của chị Lâm Thị Bé T.

Tại Biên bản ghi ý kiến nguyện vọng của cháu Lâm Thị Bé P lập ngày 23 tháng 7 năm 2024, cháu Phương trình bày: Hiện nay cháu Phương đang sống với chị Tvà bà ngoại của cháu, từ khi sinh ra cho đến nay thì cháu Phương không biết mặt cha, hiện nay cháu Phương sống với chị Trất tốt nên cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với chị T.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của

Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân chị Lâm Thị Bé T yêu cầu được ly hôn với anh Lý D; Về con chung chị Tyêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lâm Thị Bé P (Nữ, sinh ngày 21/10/2011) cho đến khi cháu P đủ 18 (mười tám) tuổi và không yêu cầu anh Dcấp dưỡng nuôi cháu Phương; Về tài sản chung, nợ chung thì chị T trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Thấy yêu cầu của nguyên đơn chị Lâm Thị Bé T là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Thị Bé T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn chị Lâm Thị Bé T vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 28 tháng 8 năm 2024); Bị đơn anh Lý D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng cả hai lần đều vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng nhận được đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Thị Bé T cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn chị Lâm Thị Bé T nộp trực tiếp tại Tòa án. Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử lý đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Thị Bé T và thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lâm Thị Bé T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn chị Lâm Thị Bé T và bị đơn anh Lý D, có nơi cư trú tại ấp Bố Liên 1, xã Thuận Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị Bé T và anh Lý D xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đủ điều kiện kết hôn. Do đó việc chị Lâm Thị Bé T và anh Lý D tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân

dân xã Thuận Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 20 tháng 01 năm 2010 là hoàn toàn đúng theo đúng quy định pháp luật cho nên được pháp luật công nhận đây là hôn nhân hợp pháp và cần giải quyết hậu quả phát sinh từ cuộc hôn nhân này.

Trong quá trình chung sống theo chị T trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và không tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân, anh D không quan tâm chăm sóc cho gia đình. Chị Tvà anh Dđã sống ly thân từ năm 2011 đến nay, khi xảy ra mâu thuẫn chị Tđã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được và vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay chị Tvà anh Dkhông còn chung sống với nhau như vợ chồng, anh chị đều có công việc riêng và có cuộc sống riêng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án chị Tvẫn cương quyết xin ly hôn với anh Lý D.

Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại Khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Đối chiếu với quan hệ hôn nhân giữa chị T, anh Dthì hiện nay, chị T, anh Dsống ly thân, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng thực trạng mâu thuẫn giữa chị T, anh Dđã đến mức trầm trọng, hiện nay anh chị không còn sống chung với nhau như vợ chồng, anh chị không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lâm Thị Bé T.

[5] Về con chung: Xét yêu cầu của chị Lâm Thị Bé T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lâm Thị Bé P (Nữ, sinh ngày 21/10/2011) cho đến khi cháu P đủ 18 (mười tám) tuổi. Hội đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Nhận thấy, từ khi chị Tvà anh Dsống ly thân cho đến nay thì cháu Phương đều do chị Ttrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng về tâm lý phát triển bình thường, được đi học đầy đủ. Tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu Phương thì cháu Phương có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với chị Lâm Thị Bé T.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng nhằm để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, ổn định cuộc sống cũng như tâm sinh lý của cháu Lâm Thị Bé Phương nên việc giao cháu Phương cho chị Lâm Thị Bé T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Lâm Thị Bé Phương (Nữ, sinh ngày 21/10/2011) cho chị Lâm Thị Bé T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Phương đủ 18 (mười tám) tuổi. Anh Lý D

được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Dthực hiện quyền này, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Đáng lẽ ra, chị Lý D là người không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị Tcho rằng hiện nay chị Tcó công việc làm ổn định, thu nhập hằng tháng của chị Tđảm bảo nên chị Tcó khả năng, điều kiện để nuôi dưỡng con chung nên chị Ttự nguyện không yêu cầu anh Dcấp dưỡng nuôi cháu Lâm Thị Bé Phương (Nữ, sinh ngày 21/10/2011).

[7] Về tài sản chung: Chị Lâm Thị Bé T tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[8] Về nợ chung: Chị Lâm Thị Bé T tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí: Nguyên đơn chị Lâm Thị Bé T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Thị Bé T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị Bé T được ly hôn với anh Lý D.

2. Về con chung:

2.1 Giao con chung tên Lâm Thị Bé P (Nữ, sinh ngày 21/10/2011) cho chị Lâm Thị Bé T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Lâm Thị Bé P (Nữ, sinh ngày 21/10/2011) đủ 18 (mười tám) tuổi.

2.2 Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lâm Thị Bé T tự khai có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng cháu Lâm Thị Bé P (Nữ, sinh ngày 21/10/2011) và tự nguyện không yêu cầu anh Lý D cấp dưỡng nuôi cháu P nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2.3 Sau khi ly hôn, anh Lý D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung tên Lâm Thị Bé Phương (Nữ, sinh ngày 21/10/2011), chị Lâm Thị Bé T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh Lý D không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung: Chị Lâm Thị Bé T tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung: Chị Lâm Thị Bé T tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lâm Thị Bé T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005708 ngày 05 tháng 7 năm 2024, chị Lâm Thị Bé T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

6. Nguyên đơn; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (Phòng KTNV&THA);
  • - UBND xã Thuận Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger