Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/DS-PT

Ngày: 04 - 7 - 2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Thịnh

Các Thẩm phán: bà Võ Thị Minh Phượng

bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Ngọc Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 45/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Đinh Văn V, sinh năm 1974 và bà Đinh Thị T, sinh năm 1981;

- Bị đơn: ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1969 và bà Thái Thị Thanh H, sinh năm 1974;

Tất cả cùng địa chỉ: tổ dân phố A, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973; địa chỉ: thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
  2. Ông Cao Xuân G, sinh năm 1992;
  3. Ông Cao Xuân N, sinh năm 1995;
  4. Cùng địa chỉ: thôn K, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng.

  5. Bà Cao Thị Xuân N1, sinh năm 1996; địa chỉ: thôn A, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
  6. Bà Hoàng Thị T2, sinh năm 1982; địa chỉ: tổ dân phố A, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
  7. Ông Nguyễn Nhật Q, sinh năm 1994; địa chỉ: Số C T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Do ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1969; địa chỉ: tổ dân phố A, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam đại diện theo Giấy ủy quyền ngày 12/01/2024.

7. Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Đ. Do ông Huỳnh Văn T3, Chức vụ Chủ tịch đại diện.

Người kháng cáo: nguyên đơn ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T trình bày:

Trước năm 2014, vợ chồng ông có thuê nhà đất của ông Cao Xuân T4 và bà Nguyễn Thị T1 tại thửa đất số 04, tờ bản đồ số 01 thuộc tổ dân phố A, thị trấn P để làm mộc. Đến ngày 02/4/2014, vợ chồng ông lập giấy viết tay với ông T4, bà T1 thoả thuận việc nhận chuyển nhượng lại nhà và đất nói trên. Thửa đất theo thoả thuận có kích thước như hồ sơ giấy tờ nhà nước đã đo đạc năm 2004 và các bên không cắm mốc giao đất. Lúc chuyển nhượng thì hiện trạng đất phía sau không ai sử dụng. Đến năm 2016, vợ chồng ông Á xây nhà lấn sang phần đất mà vợ chồng ông nhận chuyển nhượng, phần hàng rào trụ bê tông, lưới B40 chắn ngang phía sau nhà của vợ chồng ông, nên hai bên xảy ra tranh chấp. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng thì phía sau đất chưa có hàng rào trụ bê tông lưới B40 này, đồng thời, sau khi nhận chuyển nhượng, vợ chồng ông tiến hành đổ đất phía sau thì vợ chồng ông Á không cho và cho rằng là đất của họ.

Nay vợ chồng ông yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Văn Á, bà Thái Thị Thanh H tháo dỡ các tài sản trên đất tranh chấp, trả lại phần đất tranh chấp diện tích là 85,4m² theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ cho vợ chồng ông.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Á và bà Thái Thị Thanh H trình bày:

Vợ chồng ông đang quản lý, sử dụng thửa đất số 17, tờ bản đồ số 01, tại tổ dân phố A, thị trấn P, liền kề với thửa đất số 04 do vợ chồng ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T đang quản lý, sử dụng. Trước đây, khi vợ chồng ông V chưa nhận chuyển nhượng đất từ vợ chồng ông Cao Xuân T4 thì vợ chồng ông đã canh tác và sinh sống từ lâu trên thửa đất này. Vợ chồng ông và vợ chồng ông T4 không có tranh chấp gì, sau khi nhận chuyển nhượng đất vợ chồng ông V mới phát sinh tranh chấp. Trước đây thửa đất của ông T4 chỉ dài 20 mét (đã có hàng rào tạm), ngoài 20 mét đó là đất của vợ chồng ông quản lý, sử dụng, bản thân bà T1 cũng thừa nhận vấn đề này. Nguồn gốc thửa đất là vợ chồng ông nhận chuyển nhượng từ ông Arất B. Ông Á thừa nhận, vào năm 2004 khi cơ quan chức năng tiến hành lập hồ sơ kỹ thuật thửa đất, trong lúc ký vào biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thì có sự sai sót và nhầm lẫn. Nếu đối chiếu với sơ đồ kỹ thuật thửa đất thì phần đất tranh chấp hoàn toàn nằm trong thửa đất của vợ chồng ông V, nhưng thực tế phần đất tranh chấp là đất của vợ chồng ông. Nguyên nhân sai sót là do thời điểm cơ quan chức năng tiến hành đo đạc, đã đo luôn phần đất của vợ chồng ông vào thửa đất của vợ chồng ông T4. Ranh giới giữa 02 thửa đất là móng trụ đã có từ năm 2010, sau này vợ chồng ông xây tường trên phần móng đó như hiện tại, xây trước năm 2014, có ông Ating L và ông Zơrâm V1 là người xây. Phía sau là hàng rào cây sắn có từ năm 1995. Đến năm 2010 vợ chồng ông mua lại mảnh vườn đó mới rào lại bằng dây thép gai, trụ bê tông và gia cố thêm lưới B40, hàng rào này có trước khi ông V đến mua đất. Mặt khác, phần đất của vợ chồng bà T1

được chia làm 02 phần, mặt ranh giới sau là ngang nhau, trong đó một phần ông bà T1 bán cho ông D, ông D lại bán cho ông Đ, hiện nay là bà T2 đang quản lý sử dụng. Nay gia đình ông V yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất tranh chấp và trả lại phần diện tích đất 85,4m² thì gia đình ông không đồng ý.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 trình bày:

Nguồn gốc thửa đất tranh chấp là của vợ chồng tôi, trước đó, có chuyển nhượng một phần cho ông D, đến ngày 02/4/2014 mới viết giấy chuyển nhượng cho ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T diện tích đất là 156m², chiều ngang 7,8m và chiều dài là 20m, tứ cận như sau: Phía Đông giáp với nhà ông Vũ Văn Đ1, phía Tây giáp với nhà ông Nguyễn Văn Á, phía Nam giáp với đất ông Nguyễn Văn Á, phía Bắc giáp với đường H. Số tiền chuyển nhượng là 150.000.000 đồng, đã nhận 130.000.000 đồng, còn lại 20.000.000 đồng chưa thanh toán và để lại số tiền này cho ông V, bà T làm Giấy CNQSD đất. Hiện tại, đất đã chuyển nhượng cho ông V và bà T xong, còn về Giấy CNQSD đất thì ông V, bà T liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp. Diện tích đất chuyển nhượng là theo hiện trạng mà nhà của bà T1 đắp đất làm nhà, chiều dài ngang với bờ kè nhà ông Đ1 đã xây, còn cạnh phía Tây giáp với bờ tường nhà ông Nguyễn Văn Á đã xây. Bờ tường nhà ông Á đã xây dựng trước khi vợ chồng tôi chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông V. Phần diện tích đất phía sau, hiện nay ông V và ông Á đang tranh chấp, vợ chồng tôi trước đó không sử dụng và cũng không biết nhà nước đo luôn vào thửa đất của vợ chồng tôi, nên khi chuyển nhượng cho ông V không có diện tích này. Phần diện tích đất ở phía sau đang tranh chấp có nguồn gốc là do người dân khai phá trồng cây, sau đó vợ chồng ông Á, bà H mua lại để sử dụng cho tới nay. Khi giao đất cho vợ chồng ông V, bà T thì chỉ đất sử dụng trên thực tế, không có đo đạc, cắm mốc giao đất, đất vợ chồng bà T1 sử dụng đến đâu thì chỉ cho ông V, bà T đến đó.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Xuân G, ông Cao Xuân N và bà Cao Thị Xuân N1 cùng trình bày:

Năm 2014, cha mẹ các ông, bà là ông Cao Xuân T4 và bà Nguyễn Thị T1 có chuyển nhượng cho ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T một thửa đất chiều ngang 7,8m và chiều dài 20m tại thôn A, thị trấn P, đã nhận tiền chuyển nhượng đất từ ông V. Khi chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông V, bà T thì diện tích chuyển nhượng theo diện tích thực tế gia đình sử dụng trước đó. Phần diện tích đất tranh chấp hiện nay giữa ông V và ông Á ở phía sau thì gia đình của các ông, bà không chuyển nhượng cho vợ chồng ông V. Gia đình ông, bà chỉ sử dụng đến ngang bờ kè đất của nhà ông Đ1, theo bờ rào ông Á rào hiện nay. Phần diện tích đất này từ trước đến nay gia đình ông, bà không sử dụng và cũng không biết nhà nước đo đạc vào thửa đất của gia đình mình. Phần ranh giới giáp với đất của ông Á ở cạnh phía Tây thì gia đình ông, bà chuyển nhượng cho ông V tính từ bờ tường nhà ông Á. Bờ tường này nhà ông Á đã xây dựng từ lâu, trước khi chuyển nhượng đất cho ông V. Gia đình ông, bà chuyển nhượng đất cho ông V, bà T xong nên không có yêu cầu gì từ ông V, bà T.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị T2 trình bày:

Bà T2 mua đất của ông Vũ Văn Đ1 và bà Trần Thị Thanh M bán với diện tích 126m², thực tế như hiện tại. Phần đất này bà T2 đang trực tiếp quản lý sử dụng. Đất đã có Giấy CNQSD đất mang tên ông Đ1, nhưng chưa sang tên. Khi bà T2 hỏi ông Đ1 có phần đất nào nữa không thì ông Đ1 trả lời là mua bao nhiêu của ông D thì bán lại cho bà T2 như thế đó. Hiện tại phần đất tranh chấp giữa ông V và ông Á thì bà T2 không có ý kiến gì.

Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam đã căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 158, 165, 166, khoản 1 Điều 227, Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12, Điều 95, Điều 166, Điều 170 và Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 164, Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T đối với yêu cầu khởi kiện buộc ông Nguyễn Văn Á và bà Thái Thị Thanh H tháo dỡ tài sản trên đất tranh chấp, trả lại diện tích đất tranh chấp là 85,4m², tại thửa đất số 04, tờ bản đồ số 01, tổ dân phố A, thị trấn P, huyện Đ cho ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/4/2024 ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm 03/2024/DS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải quyết vụ án, về việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và không rút đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.

[2] Xét kháng cáo :

[2.1]. Về thủ tục tố tụng

- Về thời hạn kháng cáo: nguyên đơn ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T kháng cáo trong thời hạn nên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam thụ lý phúc thẩm vụ án theo quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn bà Đinh Thị T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1, ông Cao Xuân G, ông Cao Xuân N và bà Cao Thị Xuân N1 vắng mặt, nhưng đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định pháp luật.

[2.2]. Về nội dung vụ án

- Nguồn gốc thửa đất số 04, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại tổ dân phố A, thị trấn P hiện nay vợ chồng ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T đang quản lý, sử dụng là đất thuộc quyền sử dụng của hộ ông Cao Ngọc T5 (đã chết năm 2018) và bà Nguyễn Thị T1. Theo Sổ Địa chính được Sở Địa chính tỉnh Quảng Nam phê duyệt ngày 31/03/1999 thì ông Cao Xuân T4 và bà Nguyễn Thị T1 kê khai, đăng ký tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 02, diện tích 301,7m², loại đất T, mục đích sử dụng: Đất ở và đất vườn; thời gian sử dụng: Lâu dài. Sau đó, ông T4, bà T1 chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Công D1 một phần thửa đất số 11. Đến năm 2004, Nhà nước tiến hành đo đạc, lập hồ sơ kỹ thuật thửa đất, xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng, lập hồ sơ quản lý đất đai thì ông Cao Xuân T4 kê khai, đăng ký phần diện tích còn lại sau khi chuyển nhượng một phần cho ông Nguyễn Công D1 tại thửa đất số 04, tờ bản đồ số 01, diện tích là 242m². Phần diện tích ông T4, bà T1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Công D1 thì ông D1 kê khai đăng ký năm 2004 tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 01, diện tích là 169,4m² và sau đó chuyển nhượng lại cho bà Trần Thị Thanh M (chồng là ông Vũ Đ1) năm 2005. Năm 2014, vợ chồng ông Cao Xuân T4 và bà Nguyễn Thị T1 chuyển nhượng phần đất còn lại của thửa đất số 04, tờ bản đồ số 01 cho vợ chồng ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T theo giấy viết tay ngày 02/4/2014.

- Nguồn gốc thửa đất hiện nay ông Nguyễn Văn Á và bà Thái Thị Thanh H đang quản lý, sử dụng tại tổ dân phố A, T kề với thửa đất số 04, tờ bản đồ số 01 do vợ chồng ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T đang quản lý, sử dụng. Theo Sổ Địa chính được Sở Địa chính tỉnh Quảng Nam phê duyệt ngày 31/03/1999 thì ông Nguyễn Văn Á kê khai, đăng ký tại thửa đất số 10, tờ bản đồ số 02, diện tích 336,8m², loại đất T, mục đích sử dụng: Đất ở và đất vườn; thời gian sử dụng: Lâu dài. Trong quá trình sử dụng đất tại đây, ông Á, bà H có nhận chuyển nhượng thêm một phần diện tích đất

của một số người dân khai hoang trồng cây phần tiếp giáp phía sau thửa đất đang sử dụng. Đến năm 2004, Nhà nước tiến hành đo đạc, lập hồ sơ kỹ thuật thửa đất, xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng, lập hồ sơ quản lý đất đai thì ông Nguyễn Văn Á kê khai, đăng ký tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 01, diện tích là 1.222,6m².

Ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T cho rằng khi nhận chuyển nhượng đất từ vợ chồng ông Cao Xuân T4 và bà Nguyễn Thị T1 là nhận chuyển nhượng toàn bộ thửa đất theo hồ sơ đo đạc năm 2004; Vợ chồng ông Nguyễn Văn Á, bà Thái Thị Thanh H đã làm nhà lấn sang thửa đất đã nhận chuyển nhượng từ ông Cao Xuân T4 và bà Nguyễn Thị T1 và rào ngay phía sau thửa đất khoảng 85m². Do đó, các bên đã xảy ra tranh chấp và đã tiến hành hòa giải cơ sở nhưng không thành.

Qua xem xét, thẩm định tại chỗ thì diện tích đất vợ chồng ông Đinh Văn V thực tế sử dụng là 157,4m²; diện tích đất vợ chồng ông Nguyễn Văn Á thực tế sử dụng bao gồm diện tích đất tranh chấp là 1204,3m²; diện tích đất tranh chấp giữa các bên là 85,4m², trên phần đất tranh chấp này có các tài sản của vợ chồng ông Nguyễn Văn Á xây dựng, trồng trọt, gồm:

  • Ở vị trí tranh chấp số 1: 04 trụ bê tông kích thước 21cm x 22cm x 4m; tường xây gạch ống kích thước 15cm x 3,5m x 19,35m, phần móng bê tông cốt thép 20cm.
  • Ở vị trí tranh chấp số 2: Tường xây gạch ống kích thước 15cm x 3,4m x 3,36m, phần móng bê tông cốt thép 20cm.
  • Ở vị trí tranh chấp số 3: Tường xây gạch ống kích thước 15cm x 3,2m x 6,89m, phần móng bê tông cốt thép 20cm.
  • Ở vị trí tranh chấp số 4: 01 cây nhãn đã có trái đường kính 15cm; 01 cây sầu riêng chưa có trái đường kính 08cm; 01 khóm thờ trụ bằng thép, khóm bằng tôn 30-40cm; 03 trụ bê tông trên hàng rào kích thước 10cm x 10cm x 1,6m; lưới B40 kích thước 2,4m x 8,3m.

Tổng giá trị tài sản qua thẩm giá là 278.872.327 đồng, trong đó: giá trị quyền sử dụng đất là 257.054.000 đồng và giá trị tài sản trên đất là 21.818.327 đồng.

Vợ chồng ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Văn Á, bà Thái Thị Thanh H tháo dỡ tài sản, trả lại diện tích đất tranh chấp là 85,4m². Vợ chồng ông Á, bà H không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V, bà T, với lý do phần ranh giới phía trước vợ chồng ông Á đã xây dựng tường nhà từ lâu làm ranh giới sử dụng đất với đất của ông T4, bà T1; P diện tích đất tranh chấp phía sau từ trước đến nay vợ chồng ông Á sử dụng trồng cây, ông T4, bà T1 không sử dụng phần đất này; Giữa vợ chồng ông Á, bà H không có tranh chấp với ông T4, bà T1.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T thì thấy:

Thửa đất hiện nay vợ chồng ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T đang quản lý, sử dụng tại tổ dân phố A, thị trấn P có nguồn gốc là đất nhận chuyển nhượng từ ông Cao Xuân T4 và bà Nguyễn Thị T1, được kê khai, đăng ký tại thửa đất số 04, tờ bản đồ số 01, diện tích là 242m². Năm 2014, ông T4, bà T1 chuyển nhượng lại cho ông V và bà T quản lý, sử dụng cho đến nay. Theo giấy chuyển nhượng đất viết tay ngày

02/4/2014 giữa ông T4, bà T1 và ông V, bà T chỉ xác định vị trí khu đất chuyển nhượng “Phía Đông (mặt tiền) đường H, phía Tây (sau nhà) vườn Nguyễn Văn Á, phía Nam giáp nhà Vũ Văn Đ1, phía Bắc giáp nhà Nguyễn Xuân Ả”; không xác định diện tích đất chuyển nhượng. Mặc dù trên giấy chuyển nhượng có ghi chiều dài và chiều rộng thửa đất chuyển nhượng: với chiều dài 325m và chiều rộng 87,9m, số liệu này hoàn toàn không trùng khớp với số đo theo hồ sơ quản lý nhà nước về đất đai và thực tế sử dụng đất của thửa đất các bên chuyển nhượng. Người chuyển nhượng đất cho ông V, bà T là bà Nguyễn Thị T1 và các con của ông T4, bà T1 là ông Cao Xuân G, ông Cao Xuân N và bà Cao Thị Xuân N1 đều xác định: Khi chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông V, bà T thì diện tích chuyển nhượng theo diện tích thực tế gia đình sử dụng trước đó. Phần diện tích đất tranh chấp hiện nay giữa ông V và ông Á ở phía sau thì không chuyển nhượng cho vợ chồng ông V. Gia đình bà T1 chỉ sử dụng đến ngang bờ kè đất của nhà ông Đ1, theo bờ rào ông Á rào hiện nay. Phần diện tích đất này từ trước đến nay gia đình bà T1 không sử dụng và cũng không biết nhà nước đo đạc vào thửa đất của gia đình mình. Phần ranh giới giáp với đất của ông Á ở cạnh phía Tây thì gia đình bà T1 chuyển nhượng cho ông V tính từ bờ tường nhà ông Á. Bờ tường này nhà ông Á đã xây dựng từ lâu, trước khi chuyển nhượng đất cho ông V.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà ông Nguyễn Văn Á có thừa nhận là đã ký Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất số 04, tờ bản đồ số 01 của ông Cao Xuân T4 kê khai, nhưng do không biết cụ thể vị trí và không biết nhà nước đo một phần thửa đất của vợ chồng ông đang sử dụng vào thửa đất của vợ chồng ông Cao Xuân T4. Lời khai này của ông Nguyễn Văn Á phù hợp với lời khai của bà Nguyễn Thị T1 và các con của vợ chồng bà T1 là từ trước đến khi chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông V gia đình không sử dụng phần đất tranh chấp phía sau và không biết nhà nước đo đạc vào thửa đất của gia đình mình.

Phần đất ông T4, bà T1 chuyển nhượng cho ông V, bà T trước đó cho ông Hồ Tấn H1 thuê để ở và sau đó cho vợ chồng ông V thuê làm xưởng mộc và đến năm 2014 thì chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông V. Ông Hồ Tấn H1 xác định: Ông H1 có ở trên phần đất của ông Cao Xuân T4 từ khoảng đầu năm 2011 đến cuối năm 2012. Lúc ông ở đây thì đã có móng bê tông của nhà ông Nguyễn Văn Á kế bên tay trái hướng nhìn ra mặt đường. Trong quá trình ở, ông H1 có nấu rượu, làm chuồng nuôi heo phía sau nhà hết phần đất của ông T4. Phần đất được xác định là hàng rào tạm ngay bực đất cao phía trước và vực phía sau. Những người xây dựng nhà cho vợ chồng ông Á là ông Ating L, ông Zorâm V1 xác định: Vào khoảng tháng 5, tháng 6 năm 2010, ông L và ông V1 có làm nhà cho ông Á. Khi đến xây nhà thì đã có phần móng sẵn, từ phần móng đó đổ trụ và xây tường lên, đổ dằng làm nhà trọ theo yêu cầu của ông Á. Phần xây dựng bên tay trái hướng nhìn ra đường H, giáp với đất của ông T4.

Trước năm 2003, ông T4 và bà T1 đã chuyển nhượng một phần diện tích thửa đất số 11, tờ bản đồ số 02, có diện tích 301,7m² đã kê khai, đăng ký năm 1999 cho ông Nguyễn Công D1. Sau đó ông D1 chuyển nhượng lại cho bà Trần Thị Thanh M

(chồng là ông Vũ Đ1). Hiện nay, phần đất này được chuyển nhượng lại cho bà Hoàng Thị T2 đang quản lý, sử dụng. Ông Nguyễn Công D1 xác định: Khoảng năm 2002, ông D1 có mua 01 phần đất của ông Cao Xuân T4, diện tích bao nhiêu thì ông D1 không nhớ, phần đất này kế bên phần đất của ông Cao Xuân T4, mặt tiền hướng ra đường H, phía sau ngang với đất của ông T4, phần đất của ông T4 đã đổ cao so với phía sau.

Diện tích đất bà Hoàng Thị T2 quản lý, sử dụng hiện nay ngang với ranh giới đất thực tế ông Á và ông V đang sử dụng theo hàng rào trụ bê tông, lưới B40 do ông Á xây dựng. Bà T2 xác định: Khi bà T2 hỏi ông Đ1 có phần đất nào nữa không thì ông Đ1 trả lời mua bao nhiêu thì bán lại cho bà T2 như thế.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 13/8/2019 (BL 92) ông V cũng đã thừa nhận: Phần nhà có chiều dài khoảng 21 mét tính từ đường H, khi ông V mua đất thì ông Á đang đổ móng, có chỗ đã hoàn thiện.

Ông V và bà Nguyễn Thị T1 đều thừa nhận khi chuyển nhượng đất không đo đạc xác định diện tích cụ thể và không cắm mốc giao đất, chỉ chỉ đất chuyển nhượng trên thực tế.

Từ những căn cứ nêu trên, có cơ sở xác định ông Cao Xuân T4 và bà Nguyễn Thị T1 chỉ chuyển nhượng thửa đất số 04, tờ bản đồ số 01, tại tổ dân phố A, thị trấn P cho ông Đinh Văn V và bà Định Thị T6 theo diện tích thực tế mà vợ chồng ông T4, bà T1 đang sử dụng tại thời điểm chuyển nhượng. Cạnh phía Tây của thửa đất chuyển nhượng tính từ tường nhà của ông Á, bà H và cạnh phía Nam của thửa đất chuyển nhượng tính từ bờ rào của ông Á, bà H đã xây dựng ngang với bờ kè đất của thửa đất số 19, tờ bản đồ số 01, bà Trần Thị Thanh M đứng tên Giấy CNQSD đất và hiện nay bà Hoàng Thị T2 đang quản lý, sử dụng. Do đó, không có căn cứ xác định ông Cao Xuân T4 và bà Nguyễn Thị T1 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 04, tờ bản đồ số 01, tại tổ dân phố A, thị trấn P cho ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T theo hồ sơ đo đạc năm 2004. Nên bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T về việc buộc ông Nguyễn Văn Á và bà Thái Thị Thanh H tháo dỡ tài sản trên đất tranh chấp, trả lại diện tích đất tranh chấp là 85,4m² cho ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T không cung cấp chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình, do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam.

Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 158, 165, 166, khoản 1 Điều 227, Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12, Điều 95, Điều 166, Điều 170 và Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 164, Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn Á và bà Thái Thị Thanh H tháo dỡ tài sản trên đất tranh chấp, trả lại diện tích 85,4m² đất tại thửa đất số 04, tờ bản đồ số 01, tổ dân phố A, thị trấn P, huyện Đ cho ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T (có sơ đồ diện tích đất tranh chấp kèm theo).
  2. Chi phí tố tụng: Ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T phải chịu chi phí tố tụng là 11.901.968 đồng và đã nộp xong.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí số 007824 ngày 18/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Giang. Ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Giang theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003766 ngày 23/4/2024. Ông Đinh Văn V và bà Đinh Thị T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tuyên án (ngày 04/7/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - TAND huyện Đông Giang;
  • - CCTHADS huyện Đông Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

"Đã ký"

Nguyễn Hữu Thịnh

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/DS-PT ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 76/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Đinh Văn V với bị đơn Nguyễn Văn A
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger