|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2024/HS-ST Ngày 03 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Quỳnh; Bà Đoàn Thị Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Cầm Việt Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Anh – Kiểm sát viên.
- Những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:
Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2024/TLST-HS ngày 07/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST- HS ngày 20/5/2024 đối với bị cáo:
Quàng Văn T (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 17/4/1983 tại Thành phố S, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT: Tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Quàng Văn H (đã chết) và bà: Lò Thị P (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 25/01/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 30 phút ngày 25/01/2024, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế, ma túy - Công an thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ F, phường C, thành phố S phát hiện 01 người nam giới mặc áo khoác màu nâu, quần dài màu đen, đang đứng ven đường ôm phía trước ngực một thùng bìa cát tông có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã mời người chứng kiến đồng thời tiếp cận và yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra người nam giới khai tên là Quàng Văn T, sinh năm 1983, trú tại tổ A, phường Q, thành phố S và tự giác giao nộp
01 thùng cattong T khai nhận bên trong là Pháo hoa nổ được 01 người nam giới tên H1 thuê vận chuyển với tiền công là 1.000.000 đồng.
Vật chứng vụ án: 01 thùng cattong có kích thước 40x22x40cm, mở ra bên trong có 10 hộp hình khối được bọc bằng giấy có chữ, có hoa văn giống nhau kích thước mỗi hộp là 13,5x13,5x10cm đều được gắn 01 dây cháy chậm, mở ra bên trong có các khối hình trụ đồng dạng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu đen đã qua sử dụng; 01 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 500.000 đồng có số seri BN15259240.
Cùng ngày cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã tiến hành kiểm tra thông tin trong chiếc điện thoại nhãn hiệu HUAWEI, màu đen đã qua sử dụng, đang lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0763.238.504 thuộc nhà mạng Mobifone thu giữ khi bắt quả tang của Quàng Văn T, kết quả: Phát hiện trong ứng dụng tin nhắn, cuộc gọi có thể hiện tin nhắn đến, cuộc gọi đi, cuộc gọi đến từ số thuê bao 0767.054.904 ngày 25/01/2024 (được lưu tên "A H2 pháo")
Ngày 26/01/2024 Cơ quan cảnh sát điều stra Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại vật chứng đối với vật chứng thu giữ của Quàng Văn T khi bắt quả tang, kết quả: bên trong có 10 hộp hình khối được bọc bằng giấy có chữ, có hoa văn giống nhau kích thước mỗi hộp là 13,5x13,5x10cm đều được gắn 01 dây cháy chậm, mở ra bên trong có các khối hình trụ đồng dạng có tổng khối lượng 11,873 kg, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định.
Ngày 26/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định trưng cầu giám định số 114/QĐ-ĐCSKT-MT T1 - Bộ C giám định đối với các mẫu gửi giám định.
Cùng ngày, V - Bộ C có kết luận số 769/KL-KTHS, kết luận: Các mẫu vật gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Tổng khối lượng pháo nổ (pháo hoa nổ) thu giữ là 11,873kg (mười một phẩy tám trăm bảy mươi ba kilôgam) và đều mang nhãn hiệu do Trung Quốc sản xuất. Mẫu cần giám định đã được sử dụng hết để thực hiện giám định nên không hoàn trả.
Ngày 31/01/2024 Phòng K - Công an tỉnh S có kết luận giám định số 449/KL-KTHS kết luận: Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật, hoàn lại toàn bộ đối tượng gửi giám định.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 25/01/2024, Quàng Văn T đi bộ từ nhà ở tổ A, phường Q, thành phố S đến khu vực C1 thuộc tổ F, phường Q, thành phố S chơi. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, khi T đang đứng bên ngoài cổng Cung văn hóa thiếu nhi thì gặp một người nam giới không quen biết, người này tự giới thiệu tên là H2 và đặt vấn đề muốn thuê T vận chuyển 10 hộp pháo nổ từ khu vực rừng thực nghiệm thuộc tổ F, phường C T đến khu vực thuộc tổ F, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La với số tiền 1.000.000 đồng. T đồng ý, H2 đưa cho T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu đen bên trong có lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0763.238.504 thuộc nhà mạng Mobifone, trong điện thoại có lưu sẵn số điện thoại 0767.054.xxx tên "A H2 pháo" là phương tiện để H2 liên lạc với T, 1.000.000 đồng tiền công vận chuyển (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng). Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T đón xe ô tô taxi từ khu vực Cung văn hóa thiếu nhi
đến khu vực R thực nghiệm thuộc tổ F, phường C thành phố S. Trên đường đi, H2 sử dụng số điện thoại 0767.054.xxx gọi đến số 0763.238.504 cho T hướng dẫn đường đi đến điểm hẹn và dặn T khi đến nơi sẽ có 02 người nam giới đứng đợi để đưa pháo nổ cho H2. Khi đi đến gần khu vực rừng thực nghiệm, T thấy có 02 người nam giới không quen biết đang đứng ven đường, bên cạnh có để 01 thùng cattông. T bảo người lái xe taxi dừng lại đợi còn T xuống xe đi bộ lại gần hai người nam giới này, qua trao đổi, hai người nam giới đưa cho T thùng cattong và nói là pháo gửi cho H2. Sau khi giao thùng pháo xong hai người nam giới đi đâu T không biết, T bê thùng cattong chứa pháo nổ cho vào trong cốp xe taxi rồi lên xe đi về hướng khu vực bệnh viện Y thuộc Tổ F, phường C, thành phố S. Đến khu vực cổng bệnh viện Y, bị cáo thanh toán tiền xe taxi hết 500.000 đồng rồi xuống xe bê thùng cattong chứa pháo nổ và đứng đợi ở ven đường thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế, ma túy - Công an thành phố S phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Về nguồn gốc số pháo nổ thu giữ trong vụ án, Bị cáo khai được một người nam giới không quen biết tên H2 thuê vận chuyển từ khu vực R thực nghiệm thuộc tổ F, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đến khu vực bệnh viện Y thuộc Tổ F, phường C, thành phố S. T không biết tên, tuổi, địa chỉ hay bất kỳ thông tin nào khác của H2 và thông tin của 02 người nam giới đã bán pháo nổ cho T. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án, buộc bị cáo phải chịu toàn bộ số pháo nổ thu giữ trong vụ án.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Quàng Văn T từ 07 tháng đến 12 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”. không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu tiêu huỷ: 01 thùng cattong có kích thước 40x22x40cm là vật không có giá trị; 01 thẻ sim điện thoại nhà mạng Mobifone có số thuê bao 0763.238.504.
Tịch thu xung vào Ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu đen đã qua sử dụng; số tiền 500.000 đồng. Truy thu số tiền 500.000₫.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 25/01/2024, Quàng Văn T đã có hành vi vận chuyển trái phép 11,873kg pháo nổ từ khu vực R thực nghiệm thuộc tổ F, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đến khu vực bệnh viện Y thuộc Tổ F, phường C, thành phố S, hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 20 giờ 33 phút ngày 25/01/2024 tại Tổ F, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Quàng Văn T cùng vật chứng thu giữ là 11,873kg, kết luận giám định là pháo nổ.
- Lời khai nhận tội của bị cáo.
- Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định; Kết luận giám định số 769/KL - KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S.
- Lời khai ông Lò Văn H3, trú tại tổ B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La, là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang.
Từ các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội với tổng khối lượng 11,873 gam, loại pháo hoa nổ thuộc danh mục nhà nước cấm, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự, có mức phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng cần có hình phạt tương xứng nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình cần áp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặc dù bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng quá trình điều tra đã xác định bị cáo sống lang thang không có địa chỉ cư trú rõ ràng, tại phiên toà bị cáo cũng xác nhận không có nhà riêng, không có nơi cư trú rõ ràng, do vậy không đủ điều kiện để được cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp, sống lang thang, thu nhập không ổn định, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Vật chứng của vụ án: Đối với 01 thùng cattong có kích thước 40x22x40cm; 01 thẻ sim điện thoại nhà mạng Mobifone có số thuê bao 0763.238.504 là vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu đen đã qua sử dụng; số tiền 500.000 đồng là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội cần Tịch thu xung vào ngân sách nhà nước. Truy thu số tiền 500.000đ do bị cáo phạm tội mà có.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt: Bị cáo Quàng Văn T 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: 01 thùng cattong có kích thước 40x22x40cm; 01 thẻ sim điện thoại nhà mạng Mobifone có số thuê bao 0763.238.504; Tịch thu xung vào Ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu đen đã qua sử dụng; số tiền 500.000 đồng. (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 0007947 của Công an thành phố S). Truy thu số tiền 500.000đ.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/5/2023 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Quàng Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (03/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Hồng |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về hình sự (vận chuyển hàng cấm)
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vận chuyển hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quàng Văn Thanh
