Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 76/2025/HSST

Ngày: 21/3/2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Vân.

2. Ông Võ Văn Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh:

Ông Lê Văn Chung – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2025/QĐST-HS ngày 10/3/2025, đối với bị cáo:

Lê Thanh N, giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không có.

Sinh năm 1992, tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 18/3/2023.

Nơi thường trú: số D đường G, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi cư trú: số D đường G, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không.

Cha: ông Bùi Văn K, sinh năm: 1945, mẹ: bà Lê Thị N1, sinh năm: 1955.

Anh chị em ruột: 02 người (kể cả bị cáo).

Vợ: Lê Hoài P, sinh năm 1998 (đã ly hôn).

Con: chưa có.

Tiền sự: không.

Tiền án: 01 tiền án.

+ Ngày 28/5/2021: Công an huyện C bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 01 năm 09 tháng tù giam, chấp hành án tại Trại giam L – Bộ C1, đến ngày 28/02/2023 chấp hành xong về địa phương. (chưa được xóa án tích)

Nhân thân:

+ Tháng 12/2007, thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” bị Ủy ban nhân dân huyện C đưa vào Trường giáo dưỡng 24 tháng theo quyết định số 6574/QĐUB ngày 24/12/2007.

+ Ngày 30/8/2010, Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tuyên phạt 01 năm tù, chấp hành án Trại giam C2- Bộ C1. Đến ngày 30/5/2011 chấp hành xong. (đã xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/10/2024.

Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

1/ Ông Nguyễn Bá V, sinh năm 1977; (vắng mặt)

2/ Bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1997; (vắng mặt)

Cùng ngụ địa chỉ: nhà không số, đường K, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Trần Văn T1, sinh năm 1980; (vắng mặt)

Địa chỉ: số B H, khu phố F, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh;

Địa chỉ liên lạc: số A đường N, khu phố F, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 ngày 20/10/2024, Lê Thanh N đang ở nhà tại số D đường G, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, N gọi điện yêu cầu anh Nguyễn Văn C (hành nghề chạy xe ôm) đến nhà và chở N đến tiệm cầm đồ, không rõ tên tại khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh để chuộc căn cước công dân. Sau đó, N kêu ông C chở qua nhà anh Nguyễn Bá V, địa chỉ: nhà không số, đường K, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi vào nhà, N thấy cửa nhà không đóng, không có ai ở nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản.

N ra thanh toán tiền xe ôm và kêu ông C đi về. N quay vào nhà dắt chiếc xe mô tô 02 bánh, màu đỏ, biển số 37H6-8409 của anh Nguyễn Bá V và chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F7 vỏ màu đen của chị Nguyễn Thị Cẩm T (vợ anh V) đang để trên bàn gỗ, bỏ vào túi quần. N đi ra xe nổ máy và đi xuống khu vực xã T Hội đi nhậu với bạn. Khoảng 06 giờ ngày 21/10/2024, N mang xe đến tiệm phế liệu của ông Trần Văn T1, tại số B H, Khu phố F, thị trấn C, huyện C bán xe cho ông T1 được 1.100.000 đồng. Ông T1 mua xe phế liệu nên không lập hợp đồng mua bán và đã tháo rời bán phế liệu nên không thu hồi được. Sau khi mất trộm tài sản, ông Nguyễn Bá V đã đến Công an xã P, huyện C trình báo sự việc.

Qua trích xuất camera, Công an an xã P xác định Lê Thanh N chạy xe gắn máy trên đến tiệm phế liệu nêu trên. N giao nộp chiếc điện thoại đã trộm cắp được và đang sử dụng.

Kết luận định giá tài sản số 131/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 (một) xe gắn máy hiệu SUPRISEBEST màu đỏ biển số 37H6-8409 (đã qua sử dụng, tài sản chưa thu hồi được) có giá trị là 1.900.000đ (Một triệu chín trăm ngàn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F7, màu đen trị giá 1.000.000 đồng. Tổng giá trị là 2.900.000 đồng. (BL46-47)

Vật chứng vụ án:

  • 01 (một) xe gắn máy hiệu SUPRISEBEST màu đỏ biển số 37H6-8409 (đã qua sử dụng, tài sản chưa thu hồi được);
  • 01 (một) điện thoại OPPO F7 màu đen, có số IMEL1 869383037993490, số IMEL2 069383037993482, đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Cẩm T;
  • 01 (một) áo màu đỏ, 01 (một) quần Jean màu xanh, 01 (một) đôi dép nhựa có quai dép màu xanh, có đế dép màu đen. Trang phục của N khi phạm tội.

Tại phiên tòa, Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 81/CT-VKSCC ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Lê Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ, cụ thể: Khoảng 17 giờ 30 ngày 16/7/2024, tại nhà không số, đường K, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Thanh N đã trộm cắp 01 (một) xe gắn máy hiệu SUPRISEBEST màu đỏ biển số 37H6-8409 có giá trị là 1.900.000đ (Một triệu chín trăm ngàn đồng) của ông Nguyễn Bá V và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F7, màu đen trị giá 1.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Cẩm T. Tổng giá trị là 2.900.000 đồng. Hành vi của Lê Thanh N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Thanh N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án: có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích; Tiền sự: không; Nhân thân: xấu. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Lê Thanh N từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo N phải bồi thường cho bị hại là ông Nguyễn Bá V với số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo màu đỏ, 01 (một) quần Jean màu xanh, 01 (một) đôi dép nhựa có quai dép màu xanh, có đế dép màu đen.
  • 01 (một) điện thoại OPPO F7 màu đen, có số IMEL1 869383037993490, số IMEL2 069383037993482, đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Cẩm T.

Bị cáo không tranh luận, không trình bày gì thêm.

Lời nói sau cùng:

Bị cáo trình bày: Mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ, cụ thể: Khoảng 17 giờ 30 ngày 16/7/2024, tại nhà không số, đường K, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Thanh N đã trộm cắp 01 (một) xe gắn máy hiệu SUPRISEBEST màu đỏ biển số 37H6-8409 của ông Nguyễn Bá V và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F7, màu đen của bà Nguyễn Thị Cẩm T; Kết luận định giá tài sản số 131/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 (một) xe gắn máy hiệu SUPRISEBEST màu đỏ biển số 37H6-8409 (đã qua sử dụng) có giá trị là 1.900.000đ (Một triệu chín trăm ngàn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F7, màu đen trị giá 1.000.000 đồng. Tổng giá trị là 2.900.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Thanh N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

Bị cáo là người thành niên, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án: có một tiền án về tội “Trộm cắp tái sản” chưa được xóa án tích; Tiền sự: không; Nhân thân: xấu. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định mức hình phạt cho bị cáo là có cơ sở.

Đối với ông Trần Văn T1 không biết tài sản do phạm tội mà có nên đã mua xe của Lê Thanh N, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ và thông báo cho ông V, bà T, ông T1 biết về thời gian, địa điểm mở phiên Tòa xét xử đối với bị cáo N nhưng ông V, bà T, ông T1 vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của ông V, bà T, ông T1 không ảnh hưởng gì đến nội dung vụ án nên vẫn tiến hành xét xử đối với bị cáo N.

Bị hại, bà Nguyễn Thị Cẩm T đã được nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường dân sự, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị hại, ông V yêu cầu bị cáo bồi thường cho ông V giá trị chiếc xe gắn máy hiệu SUPRISEBEST màu đỏ biển số 37H6-8409 (đã qua sử dụng) với số tiền là 2.000.000 đồng; Bị cáo tự nguyện bồi thường cho ông V số tiền là 2.000.000 đồng như ông V đã yêu cầu, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng:

  • Đối với 01 (một) áo màu đỏ, 01 (một) quần Jean màu xanh, 01 (một) đôi dép nhựa có quai dép màu xanh, có đế dép màu đen (đã qua sử dụng); Là vật chứng không có trị sử dụng. Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 (một) điện thoại OPPO F7 màu đen, có số IMEL1 869383037993490, số IMEL2 069383037993482, đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Cẩm T. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản cáo trạng số 81/CT-VKSCC ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Lê Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo N theo điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thượng vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Lê Thanh N 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2024.

Buộc bị cáo Lê Thanh N phải bồi thường cho ông V giá trị chiếc xe gắn máy hiệu SUPRISEBEST màu đỏ biển số 37H6-8409 (đã qua sử dụng) với số tiền là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi họ tên Lê Thanh N và mộc dấu tròn của Công an xã P, huyện C bên trong có 01 (một) dép nhựa có quai dép màu xanh, có đế dép màu đen; 01 (Một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi họ tên Lê Thanh N và mộc dấu tròn của Công an xã P, huyện C bên trong có 01 (một) áo màu đỏ, 01 (một) quần Jean màu xanh (đã qua sử dụng).

Các vật chứng, tài sản nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số: 06/PNK ngày 12/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (bút lục số 87, 89).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:

Án phí HS-ST: Bị cáo Lê Thanh N phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Thanh N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Ông V, ông T1, bà T vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

.Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Phòng PC 27;- Bị cáo;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ. (20b)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hùng Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 76/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Thanh N phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger