|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2025/HSST; Ngày 03 – 12 – 2025. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Hiền;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thuý Hà và bà Lê Thị Thảo.
Thư ký phiên tòa: Bà Quan Minh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1- Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2025/TLST-HS, ngày 22 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2025/QĐXXST-HS ngày 18/11/2025. Đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN N, Sinh ngày 15/03/1996. Tại tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, tỉnh Phú Thọ; Thẻ CCCD số: [...]; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Văn N1, sinh năm 1964; con bà: Lưu Thị B, sinh năm: 1960; Vợ con chưa có; Tiền án: Tại Bản án số 55/2022/HSST ngày 21/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Văn N 02 năm 09 tháng tù về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 02/10/2024, chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xoá án tích); Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01, Công an tỉnh T. Có mặt
- Bị hại: Anh Trương Văn B1, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, tỉnh Phú Thọ. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Tổ dân phố E, phường P, tỉnh Phú Thọ. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 10/8/2025, tại công trình xây dựng Bệnh viện đa khoa tỉnh T, Nguyễn Văn N mượn xe mô tô biển số 88K2 - 6873, nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn đen bạc của anh Trương Văn B1 để đi mua đồ (anh B1 là người quản lý thợ xây tại công trình Bệnh viện đa khoa tỉnh T, N là thợ xây do anh B1 quản lý), đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, N về trả lại chìa khóa xe cho anh B1 và dựng xe tại cửa lán ở của công nhân, sau đó N đi uống nước đến khoảng 23 giờ cùng ngày, N đi về đến cửa lán thì nảy sinh mục đích trộm cắp xe mô tô biển số 88K2 - 6873 của anh B1 để mang đi bán lấy tiền chi tiêu. N đi đến vị trí dựng xe mô tô, sử dụng chìa khoá xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha cũ của Ninh tra thử vào ổ khoá xe của anh B1 vặn thử thì thấy mở được khoá, N khởi động xe mô tô và điều khiển xe đi về khu vực phường P, tỉnh Phú Thọ thuê một nhà nghỉ (không nhớ địa chỉ) ngủ qua đêm.
Khoảng 09 giờ ngày 11/8/2025, N điều khiển xe mô tô biển số 88K2 - 6873 trộm cắp được đi đến nhà anh Hoàng Văn H, ở tại phường P, tỉnh Phú Thọ (là người quen của N) đặt vấn đề vay anh H số tiền 3.500.000 đồng và N tự nguyện để lại xe mô tô nêu trên tại nhà anh H để làm tin, do không biết nguồn gốc xe mô tô trên là do trộm cắp mà có nên anh H đồng ý cho N vay số tiền 3.500.000 đồng. Sau đó, N mở cốp xe thì thấy bên trong có 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 88K2 - 6873 mang tên Cao Văn H1; 02 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 thẻ ATM ngân hàng A đều của anh Trương Văn B1, N đưa cho anh H giấy đăng ký xe và xe mô tô còn các giấy tờ trên N cầm về và mang theo trên người. Số tiền 3.500.000 đồng vay của anh H, N đã chi tiêu cá nhân hết.
Đối với anh Trương Văn B1, sau khi phát hiện bị mất xe mô tô biển số 88K2 – 6873 do bận công việc nên đến ngày 14/8/2025 anh B1 mới trình báo Công an phường A, tỉnh Tuyên Quang giải quyết. Ngày 15/8/2025, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an phường A, tỉnh Tuyên Quang, N đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 22/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Tuyên Quang kết luận: 01 xe mô tô biển số 88K2- 6873, nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn đen bạc tại thời điểm bị chiếm đoạt là 4.333.000 đồng (Bốn triệu, ba trăm, ba mươi ba nghìn đồng).
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại cùng nhất trí với Kết luận định giá tài sản.
Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên, Cáo trạng số 06/ CT-VKSKV1 ngày 22/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N, về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Tuyên Quang sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N, phạm tội: Trộm cắp tài sản; Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 09 tháng đến 01 năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày 15/8/2025.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Do bị cáo là người không có công việc làm ổn định, không có tài sản riêng, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra ngày 15/8/2025, ông Hoàng Văn H đã tự nguyện giao nộp xe mô tô biển số 88K2 - 6873 và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Cao Văn H1 cho Cơ quan điều tra. Ngày 09/10/2025, xét thấy không cần thiết phải tạm giữ vật chứng, cơ quan Điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 88K2 - 6873, 02 căn cước công dân, 01 giấy đăng ký xe mô tô, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 thẻ ATM ngân hàng A cho chủ sở hữu là anh Trương Văn B1.
Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tài sản. Đối với số tiền 3.500.000₫ bị cáo vay của anh Hoàng Văn H gia đình bị cáo N đã tự nguyện trả lại anh H. Vì vậy, không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vật chứng và trách nhiệm dân sự đối với bị cáo trong vụ án.
Về án phí: Bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Nguyễn Văn N trình bày: Nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo cũng rất hối hận vì thiếu suy nghĩ nên nhất thời phạm tội. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, bị cáo hứa sẽ tuyệt đối rèn luyện bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử thảo luận và quyết định xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3].Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai của bị cáo phù hợp với đơn trình báo về việc bị mất tài sản của bị hại Trương Văn B1, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn H, Biên bản xử lý vụ việc; Biên bản tạm giữ tài sản bị trộm cắp; Biên bản, sơ đồ, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 10/8/2025 Bị cáo Nguyễn Văn N là người trực tiếp lén lút lấy trộm 01 xe mô tô biển số 88K2 - 6873, trị giá 4.333.000 đồng (Bốn triệu, ba trăm, ba mươi ba nghìn đồng) của bị hại Trương Văn B1 với mục đích để đem đi bán lấy tiền tiêu sài thì bị phát hiện và bắt giữ.
[4]. Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a,....
đ....
[5]. Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản; căn cứ vào giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Tuyên Quang truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[6]. Bị cáo là người chưa được xoá án tích về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên bị cáo phải nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo lại tiếp tục cố ý lén lút lấy trộm 01 xe mô tô biển số 88K2 - 6873, trị giá 4.333.000 đồng (bốn triệu, ba trăm, ba mươi ba nghìn đồng) của anh Trương Văn B1, với mục đích bán để lấy tiền chi tiêu cá nhân, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự an toàn xã hội nơi bị cáo gây án, do đó cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc bị cáo phải chịu một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật, đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác đang diễn ra phức tạp trong tình hình hiện nay.
[7]. Xét về nhân thân và tính chất, mức độ của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử - xét thấy: Ngày 02/10/2024 bị cáo N chấp hành xong hình phạt 02 năm 09 tháng tù về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản đến ngày 10/8/2025 trong thời gian chưa được xoá án tích bị cáo lại tiếp tục phạm tội mới như đã nêu trên thể hiện tính coi thường pháp luật nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên khi hành vi trộm cắp bị phát hiện bị cáo chủ động khai báo để cơ quan điều tra thu hồi tài sản trả lại bị hại ngay, nên chưa gây thiệt hại về tài sản, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, đối với số tiền 3.500.000₫ bị cáo vay của anh H, bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình trả lại anh H ngay. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[9]. Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Xét thấy bị cáo là người không có công việc làm ổn định, không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[10].Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11].Về vật chứng: Quá trình điều tra đã tạm giữ 01 xe mô tô biển số 88K2 - 6873 và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Cao Văn H1; 02 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 thẻ ATM ngân hàng A mang tên Trương Văn B1, sau khi xem xét đến điều kiện cần thiết của bị hại cần có tài sản thiết yếu để phục vụ công việc nên cơ quan điều tra đã quyết định trả lại tài sản cho chủ sở hữu là có căn cứ phù hợp với điều kiện thực tế, đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Văn H cho bị cáo Nguyễn Văn N vay tiền và để cho N gửi lại xe mô tô biển số 88K2 - 6873 để làm tin nhưng H không biết đây là tài sản do N trộm cắp mà có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[12]. Về án phí: Bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N, phạm tội: Trộm cắp tài sản.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ( ngày 15/8/2025).
- Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Báo cho bị cáo, biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Báo cho Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết .
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà Vũ Thu Hiền |
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |
|
Lý Thúy Hà Lê Thị T |
Vũ Thu H2 |
Bản án số 76/2025/HSST ngày 03/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – TUYÊN QUANG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 76/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN NINH BỊ XÉT XỬ VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
