|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 76/2025/HS-ST Ngày: 30/6/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/Ông: Đào Ngọc Khải.
- 2/Ông: Hoàng Xuân Trường.
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:
Bà: Nguyễn Thu Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 6 năm 2025. Tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2025/TLST-HS ngày 18/6/2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-HS ngày 19/6/2025, đối với bị cáo: Họ và tên: Đỗ Văn D, sinh năm 1997, tại: Huyện V, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam. HKTT: thôn P, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Đỗ Văn Đ; Con bà: Nguyễn Thị H. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ, con: Chưa. Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Thanh T - Luật sư, Văn phòng L1 và cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh H
*Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1/Anh: Đỗ Đức D1, sinh năm 2011.
- 2/Bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1979. ( đồng là người giám hộ cho cháu D1 tại phiên tòa)
Đều HKTT: thôn P, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Đều có mặt
2/Bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1981(vắng mặt)
Trú tại: thôn V, xã H, huyện C, TP ..
* Những người chứng kiến:
- 1/Ông: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1964
- 2/Anh: Đinh Quốc V, sinh năm 1997.
- 3/Anh: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1989
Đều trú tại: thôn P, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (Đều vắng mặt tại phiên tòa.)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn Đ1, sinh năm 2001, HKTT: thôn C, xã H, huyện C, TP . làm thuê và ở tại nhà anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1964 ở thôn P, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Quá trình làm việc tại Hưng Yên, Đ1 quen biết Đỗ Văn D, sinh năm 1997, trú tại: thôn P, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Khoảng 19 giờ ngày 22/7/2024, Đ1 nhắn tin qua mạng xã hội Mesenger rủ Đỗ Văn D sử dụng trái phép chất ma túy loại kẹo và bảo D xem chỗ nào thì mua ma túy kẹo về cùng sử dụng, Đ1 trả tiền. Khoảng 21 giờ, D hỏi mua của Trần Văn C, sinh năm 1994, trú tại: thôn D, xã T, huyện V 02 viên ma túy loại kẹo với giá 800.000đồng và hẹn giao ở gần nhà D. Đến 23 giờ, Đ1 đến nhà D, Đ1 hỏi “đã lấy được ma túy chưa”, D trả lời “lấy được rồi”. Sau đó Đ1 trả D số tiền 800.000 đồng tiền mua ma túy. Đ1 và D cùng đi lên phòng ngủ của D, D lấy 01 lon Cocacola và 01 chai nước lọc mang lên phòng, Đ1 sử dụng điện thoại di động kiểu dáng Iphone của D kết nối với loa bật nhạc nghe. D đưa 02 viên ma túy kẹo cho Đ1, Đ1 bảo mỗi anh em dùng 01 viên, D nói “hôm nay anh say lắm, chỉ dùng 1/2 viên thôi, em dùng được thì dùng hết đi”. Đ1 đưa cho D 01 viên ma túy kẹo, Dương cầm bẻ đôi viên ma túy dùng còn 1/2 viên đưa lại cho Đ1 sử dụng. D cho ma túy kẹo vào miệng, lấy nước Cocacola và nước lọc uống còn Đức hòa 01 viên rưỡi ma túy kẹo vào cốc thủy tinh, đổ C1 vào và uống. Sau khi sử dụng ma túy khoảng 30 phút thì D thấy Đ1 có biểu hiện phê ma túy, mất kiểm soát, nằm dưới nền nhà và nôn ọe, thấy vậy D lấy điện thoại di động của Đỗ Đức D1 (em trai D) để quay lại video hình ảnh Đ1 phê ma túy. Sau đó, D đưa Đ1 về nhà ông T3 ngủ rồi đi về. Một lúc sau D đi bộ sang xem Đức thế nào thì thấy Đ1 vẫn khua tay chân nên D đi về nhà dọn dẹp hết đồ sử dụng ma túy rồi đi ngủ. Đến khoảng 08 giờ ngày 23/7/2024, anh Chu Thành L, sinh năm 2006, trú tại: thôn H, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên đến chơi với Đ1 thì phát hiện Đ1 chết trên giường nên đã trình báo Công an xã L, huyện V. Sau đó, Đỗ Văn D đã làm việc với Cơ quan Công an và khai báo toàn bộ nội dung việc tổ chức sử dụng ma túy đồng thời giao nộp 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đen.
Kết quả khám nghiệm hiện trường nơi phát hiện tử thi là gian nhà cấp ở gần cổng trong sân nhà ông Nguyễn Văn T3, phát hiện thu giữ: 01 chiếc áo cộc tay cổ tròn màu đen; 02 chiếc tông màu vàng; 01 căn cước công dân số 0012010143766 mang tên Phạm Văn Đ1.
Kết quả khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra sự việc sử dụng trái phép chất ma túy là phòng ngủ của Đỗ Văn D, vật chứng thu giữ: 01 chiếc áo cộc tay, cổ màu trắng mặt ngoài có in chữ Louis Vuition màu trắng xanh, áo ngấm nước bám dính chất màu đen - nâu; 01 mẫu móng có kích thước (0 1x07)cm; 01 đầu mẩu thuốc lá dài 06cm; 01 chiếc áo sơ mi cộc tay sáng màu có cổ; 01 áo vải cộc tay cổ tròn màu đen; 01 quần soóc bò màu đen; 01 đầu mẩu thuốc lá dài 6,5cm. Tất cả đều ngấm dịch nước, bám dính chất màu nâu. Trên cửa sổ có 01 ví màu đen, bên trong ví có 970.000 đồng; 01 căn cước công dân; 01 thẻ Ngân hàng B và 01 Giấy phép lái xe mang tên Đỗ Văn D; 01 thẻ Ngân hàng T4 mang tên Phạm Văn Đ1; 01 cốc thủy tinh màu trắng; 01 đồng hồ kim loại sáng màu; 01 chùm chìa khóa có 03 chìa; 01 bát sứ màu trắng, có đường kính miệng 12cm; 01 chai nhựa trắng; 01 loa màu đen dài 45cm, có cắm ổ sạc; 01 dây sạc màu trắng dài 80cm.
Ngày 23/7/2024, Cơ quan điều tra tiến hành xét nghiệm chất ma túy tại Trung tâm y tế huyện V đối với Đỗ Văn D: Kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy loại MET, MDMA.
Kết quả khám nghiệm tử thi Phạm Văn Đ1: Khoang ngực hai bên khô, phổi hai bên sung huyết; bao tim sung huyết, không tổn thương, mở bao tim bên trong có khoảng 05ml dịch màu vàng chanh, cơ tim có các chấm xuất huyết rải rác ở mặt sau tâm thất trái; gan nhẵn bóng sung huyết không tổn thương; các quai ruột sung huyết không tổn thương; thận hai bên sung huyết không tổn thương. Quá trình khám nghiệm tử thi thu giữ mẫu máu, não, phủ tạng.
Bản kết luận giám định mô bệnh học số 5671A/K1-KTHS ngày 23/8/2024 của V1-Bộ C2, kết luận: Hình ảnh xuất huyết khoang dưới nhện, nhu mô não phù, sung huyết; phổi phù, sung huyết, xuất huyết rải rác; mô cơ tim sung huyết, xuất huyết, thoái hóa thiểu dưỡng, các tạng còn lại sung huyết, thoái hóa tế bào.
Bản kết luận giám định số 5671B/KL-KTHS ngày 06/8/2024 của V1-Bộ C2, kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của tử thi Phạm Văn Đ1 không tìm thấy ethanol; trong mẫu máu, mẫu phủ tạng và chất chứa trong dạ dày ghi thu của tử thi Phạm Văn Đ1 đều không tìm thấy chất độc thường gặp, các chất an thần gây ngủ và kim loại nặng độc.
Bản kết luận giám định số 5665/KL-KTHS ngày 13/8/2024 của V1-Bộ C2, kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu máu thu của Phạm Văn Đ1; tìm thấy ma túy Ketamine trong cốc thủy tinh; tìm thấy ma túy Ketamine trên bề mặt chiếc thẻ.
Bản kết luận giám định tử thi số 149/KLG ĐTT-PC09 ngày 11/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Phạm Văn Đ1 chết là do: Suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp do sốc ma túy.
Kiểm tra 01 file video trong niêm phong ký hiệu “V”, xác định: Đỗ Văn D sốc nách Phạm Văn Đ1 đưa về căn nhà ngang nhà ông Nguyễn Văn T3, sau đó D đi bộ một mình về nhà.
Đối với Đỗ Đức D1, sinh năm 2001 (em trai D): Không biết việc D và Đ1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trên phòng ngủ của D, không biết việc D lấy điện thoại của D1 quay hình ảnh video Đ1 phê ma túy. D1 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xám, bên trong có 01 sim.
Đối với Trần Văn C là người D khai bán ma túy cho D. Cơ quan điều tra triệu tập nhiều lần nhưng C không có mặt tại địa phương. Hành vi của C có dấu hiệu phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra đã tách hành vi và tài liệu có liên quan để tiếp tục xác minh làm rõ nếu đủ căn cứ sẽ khởi tố sau
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Đỗ Văn D thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng và đồ vật thu giữ: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xám của Đỗ Đức D1; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đen thu giữ của Đỗ Văn D; các mẫu vật hoàn lại sau giám định số: 5565/KL-KTHS; số 5667/K1-KTHS; 02 chiếc tông màu vàng; 01 bát sứ màu trắng; 01 chai nhựa màu trắng; 01 loa màu đen có cắm ổ sạc; 01 dây sạc màu trắng; 01 ví màu đen; 01 thẻ căn cước công dân; 01 thẻ Ngân hàng B và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Đỗ Văn D; 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn Đ1; 01 đồng hồ sáng màu; 02 ổ sạc; 01 vỏ lon Cocacola; 01 chùm chìa khóa có 03 chìa; 01 chiếc áo vải cộc tay. Hiện đang quản lý tại Kho vật chứng công an tỉnh H. Số tiền 970.000 đồng hiện đang gửi tại tài khoản tạm gửi Công an tỉnh H.
Cáo trạng số: 78/CT-VKS-P1 ngày 17/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Đỗ Văn D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Văn D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 255; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn D từ 16 (mười sáu) năm đến 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 11/11/2024.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46; 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 Hộp giấy niêm phong mẫu vật hoàn trả số 5665/KL-KTHS và số 5667/KL-KTHS; 01 hộp giấy niêm phong ký hiệu “A4” ; 02 chiếc tông màu vàng; 01 bát sứ màu trắng; 01 chai nhựa màu trắng; 01 chiếc áo vải cộc tay, cổ tròn, màu đen; 01 vỏ lon Cocacola; 01 loa màu đen có ổ cắm sạc; 01 dây sạc màu trắng và 02 ổ sạc; 01 thẻ ngân hàng B;
- Trả lại anh Đỗ Văn D2: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xám trong niêm phong ký hiệu “D”.
- Trả lại bị cáo Đỗ Văn D: 01 thẻ căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Đỗ Văn D; 01 đồng hồ sáng màu; 01 chùm chìa khóa có 03 chìa; 01 ví màu đen.
- Tịch thu, phát mại sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đen trong niêm phong ký hiệu “ĐT” và số tiền 970.000 đồng thu giữ của bị cáo.
- Trả lại anh Phạm Văn Đ1: 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn Đ1 (bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1981 là mẹ đẻ của anh Đ1 nhận thay).
*Quan điểm bào chữa của luật sư bào chữa cho bị cáo: Nhất trí về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo tại Bản luận tội. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét:
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình.
- Bị cáo đã tích cực tác động gia đình hỗ trợ tiền mai táng cho nạn nhân Đức số tiền 60.000.000đồng, gia đình nạn nhân đã nhận tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì.
- Gia đình bị cáo hiện rất khó khăn, bố mẹ bị cáo đã li hôn, bị cáo ở với mẹ và em trai. Gia đình có đơn trình bày hoàn cảnh và xin được hưởng mức án thấp nhất, có xác nhận của chính quyền địa phương.
Đề nghị áp dụng các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; khoản 3 Điều 55 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt 15 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo
*Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, nhất trí không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Đề nghị hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo cải tạo sớm trở về gia đình và hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà như: Lời khai của người làm chứng, Biên bản hiện trường; Biên bản khám nghiệm tử thi; Các Bản kết luận giám định của V1 - Bộ C2 và Phòng K - Công an tỉnh H, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 22/7/2024, Phạm Văn Đ1 nhắn tin qua mạng xã hội Mesenger rủ bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy loại kẹo và bảo bị cáo xem chỗ nào thì mua ma túy kẹo về cùng sử dụng, Đ1 trả tiền. Khoảng 21 giờ, bị cáo đã mua 02 viên ma túy loại kẹo với giá 800.000 đồng. Đến 23 giờ, Đ1 đến nhà bị cáo, sau đó Đ1 trả bị cáo số tiền 800.000 đồng tiền mua ma túy rồi cả hai cùng đi lên phòng ngủ của bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phòng ngủ của bị cáo, Đ1 sử dụng 01 viên rưỡi ma túy kẹo còn bị cáo sử dụng 1/2 viên ma túy kẹo. Sau khi sử dụng ma túy khoảng 30 phút thì bị cáo thấy Đ1 có biểu hiện phê ma túy, mất kiểm soát, nằm dưới nền nhà và nôn ọe. Sau đó, bị cáo đưa Đ1 về nhà ông T3 ngủ rồi đi về, một lúc sau bị cáo đi bộ sang xem Đức thế nào thì thấy Đ1 vẫn khua tay chân nên đi về nhà dọn dẹp hết đồ sử dụng ma túy rồi đi ngủ. Đến khoảng 08 giờ ngày 23/7/2024, anh Chu Thành L đến chơi với Đ1 thì phát hiện Đ1 chết trên giường.
Hành vi của bị cáo thống nhất với Phạm Văn Đ1 mua ma túy về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đã chuẩn bị công cụ và dùng ngay phòng ngủ của mình để tổ chức sử dụng ma túy dẫn đến Phạm Văn Đ1 bị sốc ma túy tử vong. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện. Bị cáo biết rõ tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy cũng như hậu quả và hệ lụy do ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân, gia đình và xã hội. Mặt khác, từ việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến lây lan căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS. Đối tượng là tầng lớp thanh, thiếu niên là nguồn lao động chính trong xã hội, gây băng hoại đạo đức xã hội, làm giảm sức lao động và là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qui định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tích cực tác động đến gia đình tự nguyện hỗ trợ mai táng cho nạn nhân được số tiền 60.000.000 đồng; gia đình nạn nhân đã nhận đủ tiền và không có ý kiến gì thêm. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Gia đình bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình và xin cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng thêm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[5]. Về hình phạt:
Mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nên khi cân nhắc hình phạt đối với bị cáo, hội đồng xét xử xem xét cần thiết phải xử phạt bị cáo mức hình phạt ngiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và tiếp tục cách li bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
*Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Xét thấy, miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Đối với: 02 Hộp giấy niêm phong mẫu vật hoàn trả số 5665/KL-KTHS và số 5667/KL-KTHS; 01 hộp giấy niêm phong ký hiệu “A4” ; 02 chiếc tông màu vàng; 01 bát sứ màu trắng; 01 chai nhựa màu trắng; 01 chiếc áo vải cộc tay, cổ tròn, màu đen; 01 vỏ lon Cocacola; 01 loa màu đen có ổ cắm sạc; 01 dây sạc màu trắng và 02 ổ sạc; 01 thẻ ngân hàng B không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy..
- Đối với: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xám trong niêm phong ký hiệu “D” của anh Đỗ Văn D2 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần trả lại cho anh D2.
- Đối với: 01 thẻ căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Đỗ Văn D; 01 đồng hồ sáng màu; 01 chùm chìa khóa có 03 chìa; 01 ví màu đen. Đây là tài sản của cá nhân bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần trrả lại cho bị cáo.
- Đối với: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đen trong niêm phong ký hiệu “ĐT” là công cụ bị cáo và anh Đ1 liên hệ rủ nhau tổ chứa sử dụng trái phép chất ma túy. Cần tịch thu, phát mại sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với khoản tiền 970.000 đồng thu giữ của bị cáo, trong đó có 800.000 đồng là tiền Đ1 đưa cho bị cáo để mua ma túy. Số tiền 170.000 đồng còn lại là tài sản của cá nhân bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo tự nguyện không nhận lại nên cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước
- Đối với: 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn Đ1, là giấy tờ tùy thân của anh Đ1 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần trả lại anh Đ1 (mẹ anh Đ1 nhận thay).
[7].Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 255; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn D 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2024.
[2]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 02 Hộp giấy niêm phong mẫu vật hoàn trả số 5665/KL-KTHS và số 5667/KL-KTHS; 01 hộp giấy niêm phong ký hiệu “A4” ; 02 chiếc tông màu vàng; 01 bát sứ màu trắng; 01 chai nhựa màu trắng; 01 chiếc áo vải cộc tay, cổ tròn, màu đen; 01 vỏ lon Cocacola; 01 loa màu đen có ổ cắm sạc; 01 dây sạc màu trắng và 02 ổ sạc; 01 thẻ ngân hàng B;
- Trả lại anh Đỗ Văn D2: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xám trong niêm phong ký hiệu “D”. Trả lại bị cáo Đỗ Văn D: 01 thẻ căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Đỗ Văn D; 01 đồng hồ sáng màu; 01 chùm chìa khóa có 03 chìa; 01 ví màu đen.
- Tịch thu, phát mại sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đen trong niêm phong ký hiệu “ĐT” và số tiền 970.000 đồng thu giữ của bị cáo.
- Trả lại anh Phạm Văn Đ1:01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn Đ1 (bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1981 là mẹ đẻ của anh Đ1 nhận thay).
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/6/2025 giữa Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh H).
[3]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí sơ thẩm hình sự.
[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh D2); người giám hộ cho anh D2 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết Bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Lâm |
Bản án số 76/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 76/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn D - Phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
