Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2025/HS-ST

Ngày: 26/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Trường.

Thẩm phán: Ông Cao Việt Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Minh Hải.

Ông Diêm Trọng Khoa.

Ông Nguyễn Văn Kỹ.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị L, sinh năm 1988; Nơi ĐKHKTT: khu phố G, phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở: Số B đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quý V, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1967; gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ nhất; chồng là Nguyễn Xuân H, sinh năm 1978 và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 16/01/2025; hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.

* Người bào chữa cho bị cáo (theo chỉ định): Bà Đào Thị M, Luật sư Công ty L4, Đoàn luật sư tỉnh B; địa chỉ: Số E đường N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

* Bị hại: Anh Nguyễn Đình B, sinh năm 1977; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quý V, sinh năm 1966; Nơi ĐKHKTT: khu phố G, phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

* Người tham gia tố tụng khác:

  1. Ông Nguyễn Hữu B1, sinh năm 1983 – Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
  2. Cán bộ Trại tạm giam – Công an tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị L, sinh năm 1988, HKTT: Khu phố G, phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh và anh Nguyễn Đình B, sinh năm 1977, HKTT: thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh có mối quan hệ thân thiết. Khoảng đầu năm 2021, anh B có nhu cầu mua bán bất động sản. Thông qua các mối quan hệ, L có biết một số người có nhu cầu bán đất và mua đất. Vì vậy, L đã giới thiệu cho anh B mua bán để hưởng phần trăm hoa hồng. Do giữa L và anh B trước đó đã nhiều lần giao dịch thành công, ngoài ra Lập có nhận mẹ anh B là mẹ nuôi, nên anh B tin tưởng. Khoảng tháng 01/2021, do cần tiền để trả nợ và chi tiêu cá nhân nên L đã nói dối với anh B và đưa ra thông tin không đúng sự thật về việc có anh Phạm Thành N, sinh năm 1980 và chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982 ở Khu phố T, phường V, thành phố B có nhu cầu bán định suất đất dân cư dịch vụ (gọi là đất lúa non) với giá là 2.200.000.000 đồng. Để anh B tin tưởng L đã đưa anh B lên vị trí đất dân cư dịch vụ ở khu T để xem dự án đất. Thực tế là L không có đất ở dự án thuộc khu phố T, phường V, thành phố B, mục đích L đưa anh B đến đây xem đất để anh B tin tưởng và đưa tiền cho L. Sau khi xem đất xong anh B có nhờ Lập hỏi, mua hộ định suất đất của anh Phạm Thành N và Nguyễn Thị T mà L đã nói với anh B trước đó. Do tin tưởng L, ngày 18/01/2021 anh B đã đưa tiền mặt cho L số tiền 50.000.000 đồng để mua định suất đất trên, cùng ngày anh B sử dụng tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP Đ chuyển 150.000.000 đồng đến tài khoản số 2609215013932 mở tại Ngân hàng A của Nguyễn Thị L, nội dung “Tong cọc 200tr thụ ninh” và ngày 21/01/2021 anh B sử dụng tài khoản số [...] chuyển 300.000.000 đồng đến tài khoản số 2609215013932 mở tại Ngân hàng A của Nguyễn Thị L, nội dung “Coc thụ ninh”. Sau khi anh B chuyển số tiền 500.000.000 đồng cho L. Ngày 22/01/2021, Nguyễn Thị L có viết “Giấy biên nhận cọc tiền” lấy tên là Nguyễn Diệu L2, sinh năm 1988, số CMND [...] cấp ngày 19/02/2019 nơi cấp Công an tỉnh B. Chỗ ở tại thành phố B có nội dung “Tôi có tiêu chuẩn được cấp 1 bộ hồ sơ đất DCDV tại khu T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh tên ông Phạm Thành N - 1980, bà Nguyễn Thị T - 1982 là người của địa phương Thụ Ninh được cấp DCDV (do tôi mua lại) nay tôi nhượng lại cho anh Nguyên Đình B với giá thỏa thuận là 2.200.000.000 đồng (các khoản phải nộp do bên mua phải đóng góp, nộp theo đúng quy định, nay anh B có đặt cọc 500.000.000 đồng), số tiền còn lại hẹn thanh toán sau 30 ngày anh B trả đủ số tiền trên. Tôi xin cam đoan tiêu chuẩn lô đất này là của tôi không có bất kỳ tranh chấp nào chúng tôi hiểu rõ vấn đề đặt cọc này. Nếu đến ngày tôi không chuyển nhượng hồ sơ cho anh B tại phòng công chứng Lê Văn L3 tôi phải đền gấp 2 lần số tiền trên. Ngược lại đến ngày chúng tôi đã hẹn anh B không trả đủ thì sẽ bị mất số tiền trên” người cọc Nguyễn Đình B, người làm chứng Nguyễn Văn C, người nhận cọc Nguyễn Diệu L2 ký. Sau khi nhận được số tiền 500.000.000 đồng trên của anh B. Nguyễn Thị L không đặt cọc mua đất cho anh B như đã cam kết mà đã sử dụng toàn bộ số tiền 500.000.000 đồng nhận của anh B để mua sắm, chi tiêu cá nhân và trả nợ. Lập khai trả nợ bằng tiền mặt và không nhớ trả ai và chi tiêu vào việc gì.

Quá trình điều tra ngày 26/9/2024, anh Nguyễn Đình B giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B: 01 Giấy biên nhận cọc tiền đề ngày 22/01/2021 (Bản gốc) lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Ngày 30/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định trưng cầu số 2673/QĐ-CSHS, Trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B, giám định chữ viết, chữ ký trên “Giấy biên nhận cọc tiền” ngày 22/01/2021 mà Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình B đã ký với nhau.

Ngày 10/10/2024, Phòng K Công an tỉnh B có Kết luận giám định số 2322/KL-KTHS, kết luận:

- Chữ viết tại phần nội dung; chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Diệu L2 trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ viết, chữ ký của Nguyễn Thị L trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) là do cùng một người viết, ký ra.

- Chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Đình B trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ viết, chữ ký của Nguyễn Đình B trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M3) là do cùng một người viết, ký ra.

Ngày 27/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành xác minh tại Công an phường V, thành phố B và ông Nguyễn Thanh H1, Trưởng khu phố T, phường V khẳng định: Trên địa bàn khu phố T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh không có ai tên là Phạm Thành N, sinh năm 1980 và Nguyễn Thị T, sinh năm 1982.

Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B làm việc với UBND phường V, thành phố B được ông Tống Quang T1, Chủ tịch UBND phường V và ông Nguyễn Văn D, Cán bộ địa chính phường V, cung cấp tài liệu và danh sách các hộ gia đình đủ tiêu chuẩn, điều kiện được giao đất dân cư dịch vụ thuộc khu phố T, phường V, thành phố B. Ông T1 và ông D khẳng định những người có đủ điều kiện theo danh sách, không có ai tên là Phạm Thành N, sinh năm 1980; Nguyễn Thị T, sinh năm 1982 và Nguyễn Thị L (Nguyễn Diệu L2), sinh năm 1988.

Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B có Công văn số 4410/PC02 gửi Phòng Tài Nguyên và Môi trường thành phố B đề nghị cung cấp các nội dung sau:

+ Từ trước đến nay, trên địa bàn khu phố T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh có bao nhiêu dự án đất “Dân cư dịch vụ” đã và đang thực hiện hoặc đang được triển khai mới.

+ Từ trước đến nay, Nguyễn Thị L, sinh năm 1988, HKTT: Khu phố G, phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Phạm Thành N, sinh năm 1980 và Nguyễn Thị T, sinh năm 1982, cùng ở khu phố T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh có được cấp hoặc đang đứng tên sở hữu suất đất “Dân cư dịch vụ” nào ở địa bàn khu phố T, phường V, thành phố B không?

Ngày 27/9/2024, Phòng Tài Nguyên và Môi trường thành phố B có Công văn số 379/CV-TNMT trả lời, nội dung như sau:

+ Trên địa bàn phường V có duy nhất 01 dự án đất dân cư dịch vụ là dự án: HTKT khu nhà ở DCDV và đấu giá quyền sử dụng đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng Khu T, phường V, thành phố B. Trong đó có 466 hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp giao lâu dài bị thu hồi trước ngày 01/10/2009 được xét giao đất dân cư dịch vụ với tổng số 179 lô đất, ranh giới dự án liên quan đến hai khu phố: Khu T và Khu T thuộc phường V, thành phố B.

+ Từ trước đến nay, Nguyễn Thị L, sinh năm 1988, HKTT: Khu phố G, phường V, Thị Xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Phạm Thành N, sinh năm 1980 và Nguyễn Thị T, sinh năm 1982, ở Khu phố T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh không có tên trong danh sách các đối tượng được xem xét giao đất dân cư dịch vụ tại phường V, không đứng tên sở hữu suất đất "Dân cư dịch vụ" nào ở địa bàn khu phố T, phường V, thành phố B.

Quá trình điều tra Nguyễn Thị L đã tác động gia đình. Ngày 28/02/2025, ông Nguyễn Quý V (là bố đẻ Lập) đã khắc phục toàn bộ hậu quả cho anh Nguyễn Đình B số tiền 500.000.000đồng, đến nay anh B đã nhận đủ số tiền bồi thường và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Cùng ngày anh Nguyễn Đình B đã có đơn đề nghị Cơ quan pháp luật giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho L.

Tại bản Cáo trạng số: 63/CT-VKSBN-P2 ngày 11/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại anh Nguyễn Đình B khai: Về trách nhiệm dân sự, ngày 28/02/2025 ông Nguyễn Quý V là bố đẻ của Nguyễn Thị L đã thay mặt L khắc phục trả cho anh số tiền 500.000.000 đồng mà L đã chiếm đoạt của anh. Về trách nhiệm hình sự, anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Quý V khai: Ngày 28/02/2025 ông đã đại diện cho con gái là Nguyễn Thị L khắc phục trả cho anh Nguyễn Đình B số tiền 500.000.000 đồng mà L đã chiếm đoạt của anh B. Đây là tiền của cá nhân ông cho con gái là Nguyễn Thị L để khắc phục hậu quả do L gây ra. Ông không yêu cầu L phải trả lại số tiền này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị L từ 07 (bẩy) năm đến 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2025.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Luật sư Đào Thị M phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo: Nhất trí về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử khi lượng hình xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có nhân thân tốt; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo L đồng ý với quan điểm của Luật sư, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại nhất trí và không bổ sung gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn ăn hối lỗi, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm quay về làm lại cuộc đời và lo cho 02 con.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2]. Về tội danh, hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Do không có tiền chi tiêu và trả nợ Nguyễn Thị L đã đưa ra thông tin gian dối không đúng sự thật về việc có anh Phạm Thành N, sinh năm 1980 và chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982 ở khu phố T, phường V, thành phố B, có nhu cầu bán định suất đất dân cư dịch vụ với giá là 2.200.000.000 đồng để anh Nguyễn Đình B tin tưởng là thật nên từ ngày 18/01/2021 đến ngày 21/01/2021, anh B đã đưa tiền mặt và chuyển khoản cho L số tiền 500.000.000 đồng để mua định suất đất dân cư dịch vụ của anh Phạm Thành N và chị Nguyễn Thị T. Sau khi chiếm đoạt được tiền của anh B, Nguyễn Thị L đã chi tiêu cá nhân hết. Xác minh tại khu phố T, phường V, thành phố B không có thông tin của hai người trên như L nói với anh B. Đến nay, L đã tác động gia đình khắc phục và trả lại anh B số tiền đã chiếm đoạt là 500.000.000 đồng.

Do đó, có đủ căn cứ để xét xử bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân; xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo L có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 54 cho bị cáo L được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ giáo dục, răn đe và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động bố đẻ là ông Nguyễn Quý V khắc phục trả cho anh Nguyễn Đình B số tiền 500.000.000 đồng mà bị cáo đã chiếm đoạt của anh B. Anh B đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác. Vì vậy không xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2025.

    Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục duy trì Quyết định tạm giam số 63/2025/HSST-QĐTG ngày 15/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đối với bị cáo Nguyễn Thị L để đảm bảo thi hành án.

  2. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cơ quan CSĐT;
  • - Phòng PC 81; PV 27 CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trọng Trường

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Minh HảiCao Việt HoàngNguyễn Trọng Trường
Diêm Trọng KhoaNguyễn Văn Kỹ
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 76/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger