|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Q. HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số : 76/2025/HS-ST Ngày: 25/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU -TP ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Loan
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tùng và ông Phạm Xoa
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến gồm 2 điểm cầu:
- - Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (C L, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng)
- - Điểm cầu thành phần tại trụ sở Trại tạm giam Công an thành phố Đ (xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng)
Để xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2025/HSST ngày 28/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2025/QĐXXST-HS ngày 10/6/2025 đối với bị cáo:
Trần Hoàng Duy T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 11 tháng 11 năm 1988 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKTT: Tổ E, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: T (chết) và bà Hoàng Thị H (chết). Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự : Chưa.
Bị cáo bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ ngày 16/3/2025, hiện có mặt tại phiên tòa.
+ Bị hại:
- - Ông Đoàn Văn Â, sinh năm 2002; Địa chỉ: K T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- - Bà Đặng Thị Thanh L, sinh năm 1999; Địa chỉ: F N, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- - Bà Lê Thị Huyền T1, sinh năm 2004; Địa chỉ: C N, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- - Ông Trần Công H1, sinh năm 2003; Địa chỉ: B M, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- - Bà Hoàng Thị Khánh H2, sinh năm 2004; Địa chỉ: 1 T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- - Ông Bùi Tấn P, sinh năm 1997; Địa chỉ: A H, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Hoàng M, sinh năm 2003; Địa chỉ: G P, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
+ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 2000; Địa chỉ: E N, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- - Bà Trần Thị Ánh D, sinh năm 1995; Địa chỉ: G N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- - Ông Trần Hải T2, sinh năm 1989; Địa chỉ: C D X, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- - Bà Trần Thị M1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Tổ D, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- - Bà Huỳnh Thị Kim P1, sinh năm 1996; Địa chỉ: A Đ, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- - Ông Võ Tất L1, sinh năm 1999; Địa chỉ: C T, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Hoàng Duy T không có việc làm, cha mẹ đều đã mất, không có nhà ở, sống lang thang, thường đi xin ăn tại các quán cơm để sống qua ngày, đến tối thì vào trong các nhà thờ, từ đường không có người trông coi để ngủ. Có ngày, không xin được đồ ăn thì T nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô rồi vào quán mua đồ ăn, sau đó nói không mang theo tiền và để lại xe (mỗi xe chỉ dùng để ăn 01 bữa). Từ ngày 25/12/2024 đến ngày 15/3/2025, T đã thực hiện 07 lần trộm cắp tài sản, cụ thể:
-
- Lần 01: Ngày 25/12/2024, tại trước nhà số I N, phường H, quận L, TP ., T trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - bạc, biển số: 92K1 - 167.47 của ông Đoàn Văn Â. Hôm sau, T điều khiển xe đến quán N - số E N, thành phố Đà Nẵng để ăn uống. Sau đó, T nói với quản lý quán là ông Nguyễn Văn Q là T không mang theo tiền, xin để lại xe mô tô trên để bữa sau mang tiền đến trả.
Theo Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 16/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận H, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số: 92K1-167.47 có trị giá là 11.000.000 đồng.
-
- Lần 02: Khoảng 03 giờ ngày 18/02/2025, tại trước nhà số F N, phường K, quận N, TP ., T trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số: 92E1-389.69 của bà Đặng Thị Thanh L. Hôm sau, T điều khiển xe đến quán Đ đường B, thành phố Đà Nẵng để mua đồ ăn. Sau đó, T nói với chủ quán là bà Trần Thị Ánh D là không mang theo tiền, xin để lại xe mô tô trên để bữa sau mang tiền đến trả.
Theo Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS ngày 16/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND quận H, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số: 92E1-389.69 có trị giá là 7.000.000 đồng.
-
- Lần 03: Khoảng 00 giờ 25 phút ngày 04/3/2025, tại trước nhà số C N, phường H, quận N, TP Đà Nẵng, T trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển số: 38M1-065.96 của bà Lê Thị Huyền T1. Hôm sau, T điều khiển xe đến quán 129 số C X, TP Đà Nẵng để mua đồ ăn. Sau đó, T nói với chủ quán ông Trần Hải T2 là không mang theo tiền, xin để lại xe mô tô trên để bữa sau mang tiền đến trả.
Theo Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 24/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận H, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen, biển số: 38M1-065.96 nêu trên có trị giá 5.000.000 đồng.
-
- Lần 04: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07/3/2025, tại trước nhà trọ số B Mẹ H, phường T, quận T, TP Đà Nẵng, T trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh - đen, biển số 92H2 - 6391 của ông Trần Công H1. Hôm sau, T điều khiển xe đến quán 5 M đường T, thành phố Đà Nẵng (dưới chân cầu vượt ngã ba huế) để mua đồ ăn. Sau đó, T nói với chủ quán là bà Trần Thị M1 là không mang theo tiền, xin để lại xe mô tô trên để bữa sau mang tiền đến trả.
Theo Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 16/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận H, kết luận: Xe mô nhãn hiệu HondaWave màu xanh - đen, biển số: 92H2-6391 nêu trên có trị giá 5.000.000 đồng.
-
- Lần 05: Khoảng 05 giờ ngày 09/3/2025, tại kiệt A T, phường H, quận H, TP Đà Nẵng, T trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius FI màu cam - đen, biển số 37P1- 551.31 của bà Hoàng Thị Khánh H2. Hôm sau, T điều khiển xe đến quán H3 số F đường N, thành phố Đà Nẵng để mua đồ ăn. Sau đó, T nói với chủ quán nhậu là bà Huỳnh Thị Kim P1 là không mang theo tiền, xin để lại xe mô tô trên để bữa sau mang tiền đến trả.
Theo Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 16/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận H, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius FI màu cam đen, biển số: 37P1-551.31 nêu trên có trị giá 7.500.000 đồng.
-
- Lần 06: Sáng ngày 14/3/2025, tại số A đường H, phường B, quận N, TP Đà Nẵng, T trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen, biển số 92N1-121.24 của ông Bùi Tấn P. Hôm sau, T điều khiển xe đến quán Nhà Cũ trên đường B, thành phố Đà Nẵng để mua đồ ăn. Sau đó, T nói với quản lý quán là ông Võ Tất L1 là không mang theo tiền, xin để lại xe mô tô trên để bữa sau mang tiền đến trả.
Theo Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 16/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận H, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ - đen, biển số: 92N1-121.24 nêu trên có trị giá 6.000.000 đồng.
-
- Lần 07: Khoảng 04 giờ ngày 15/3/2025, tại trước nhà số K N, phường H, quận H, TP Đà Nẵng, T trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen - bạc, biển số 92E1-631.23 của bà Nguyễn Hoàng M. Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe mô tô trên đi trên đường T, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng thì bị Công an phường H phát hiện, thu giữ.
Theo Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 24/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận H, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen - bạc, biển số: 92E1-631.23 nêu trên có trị giá 7.800.000 đồng.
Như vậy, T đã thực hiện 07 lần trộm cắp xe mô tô, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 49.300.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trần Hoàng Duy T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX:
-
- Về hình phạt chính: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s,r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Trần Hoàng Duy T mức án từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
-
- Hình phạt bổ sung : Không.
-
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
-
+ Đối với 01 bật lửa màu vàng, đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội nên tịch thu và tiêu hủy là phù hợp với Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
-
+ Lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 03 đĩa DVD chứa 04 đoạn video camera ghi lại hình ảnh Trần Hoàng Duy T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
-
-
- Về trách nhiệm dân sự: Không.
Án phí HSST bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội.
Lời khai của các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đã được công bố phù hợp với lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Hoàng Duy T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 25/12/2024 đến ngày 15/3/2025, trên địa bàn các quận H, L, T, N, TP Đà Nẵng, Trần Hoàng Duy T đã trộm cắp: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số: 92K1-167.47 của ông Đoàn Văn Â, trị giá 11.000.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số: 92E1-389.69 bà Đặng Thị Thanh L, trị giá 7.000.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số: 38M1-065.96 của bà Lê Thị Huyền T1, trị giá 5.000.000 đồng; 01 xe mô hiệu HondaWave, biển số: 92H2-6391 của ông Trần Công H1, trị giá 5.000.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius FI, biển số: 37P1-551.31 của bà Hoàng Thị Khánh H2, trị giá 7.500.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số: 92N1-121.24 của ông Bùi Tấn P, trị giá 6.000.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số: 92E1-631.23 của bà Nguyễn Hoàng M, trị giá 7.800.000 đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 49.300.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số: 70/CT-VKS ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng khung hình phạt.
[3]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người khỏe mạnh, có khả năng lao động nhưng lại lười lao động, muốn có tiền ăn nhậu mà không phải bỏ sức ra để lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Lợi dụng lúc nữa đêm và gần sáng, khi các bị hại ngủ say và sơ hở trong quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt các tài sản nêu trên. Hành vi của bị cáo rất liều lĩnh, thể hiện sự coi thường pháp luật. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Chỉ trong 02 tháng 20 ngày bị cáo đã thực hiện 07 lần trộm cắp tài sản của người khác. Giá trị tài sản chiếm đoạt tổng cộng là 49.300.000 đồng. Khung hình phạt bị cáo bị truy tố, xét xử là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4]. Về nhân thân: Bị cáo Trần Hoàng Duy T có nhân thân tốt, thể hiện ở việc chưa có tiền án, tiền sự.
[5]. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội hai lần trở lên là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6]. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải thấy được việc làm sai trái của mình, bị cáo đã tự thú khai ra những lần trộm cắp trước đó là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s,r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7]. Về quyết định hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng đồng thời để răn đe, phòng chống tội phạm nói chung.
[8]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo T không có thu nhập, không thỏa mãn các điều kiện để áp dụng cũng như thi hành hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự:
- - Các bị hại đều đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không đề cập đến.
- - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo T trả lại tiền mua đồ ăn, nên HĐXX không đề cập đến.
[10] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 bật lửa màu vàng của Trần Hoàng Duy T đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội nên tịch thu và tiêu hủy là phù hợp với Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 03 đĩa DVD chứa 04 đoạn video camera ghi lại hình ảnh Trần Hoàng Duy T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Các vật chứng nêu trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 5 năm 2025.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã trả lại 07 xe mô tô bị chiếm đoạt cho chủ sở hữu. Xét thấy việc trả các vật chứng nêu trên của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ là có căn cứ nên chấp nhận.
[11] Từ những nhận định trên, xét thấy lời luận tội của Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng về tội danh và áp dụng các điều luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Về án phí: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng Duy T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
-
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s,r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng Duy T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/3/2025.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
-
- Tuyên tịch thu và tiêu hủy 01 bật lửa màu vàng của Trần Hoàng Duy T đã qua sử dụng.
-
- Lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 03 đĩa DVD chứa 04 đoạn video camera ghi lại hình ảnh Trần Hoàng Duy T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Các vật chứng nêu trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 5 năm 2025.
-
-
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Buộc bị cáo Trần Hoàng Duy T phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
-
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Đã ký và đóng dấu) PHẠM THỊ HỒNG LOAN |
Bản án số 76/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 76/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Th trộm căp tài sản
