|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2025/HS-ST Ngày: 20-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Văn Vô
Bà Trần Nguyệt Mai
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh Thư – Thư ký viên Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Đỗ Minh K, sinh năm 1990 tại: Long An; giới tính: Nam; Nơi thường trú: Ấp TH A, xã H, huyện ĐH, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Minh K1; con bà: Nguyễn Thị T; Có vợ tên: Nguyễn Thị C (đã ly hôn); Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 12/4/2023 bị Ủy ban nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu với số tiền 80.000.000 đồng (chưa thi hành xong);
Nhân thân: Ngày 22/7/2013 bị Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định xử phạt hành chính về hành vi vận chuyển, kinh doanh hàng cấm là thuốc lá điếu ngoại nhập lậu với số tiền 87.500.000 đồng (chưa thi hành xong); Ngày 13/01/2017 bị Công an huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An quyết định xử phạt hành chính hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu ngoại nhập lậu với số tiền 15.000.000 đồng (chưa thi hành xong); Ngày 08/02/2017 bị Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định xử phạt hành chính về hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu ngoại nhập lậu với số tiền 92.500.000 đồng (chưa thi hành xong); Ngày 24/9/2019 bị Công an quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, đến ngày 26/12/2019 bị Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định xử phạt hành chính về hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu ngoại nhập lậu với số tiền 85.000.000 đồng (chưa thi hành xong).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/11/2024 (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Tổ H, ấp ĐT, xã THC, huyện TH, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 20 phút ngày 30/6/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ Công an Quận 5 đang tuần tra đến trước nhà số 24/5 HL, Phường K, Quận E thì phát hiện Đỗ Minh K đang đậu xe mô tô biển số 66K1-259.26, trên xe có chở 04 (bốn) bao tải nghi vấn chứa hàng cấm nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong 04 (bốn) bao tải có chứa 1.499 bao thuốc lá điếu bao gồm: 499 bao thuốc lá hiệu JET, 500 bao thuốc lá hiệu HERO, 500 bao thuốc lá hiệu SCOTT, K khai số thuốc lá trên dùng để bán cho khách mua nên Cơ quan Công an tiến hành đưa K cùng vật chứng, phương tiện về trụ sở làm việc.
Mở rộng điều tra, Cơ quan Công an tiến hành mời các đối tượng Phan Kim L, Nguyễn Vĩ H và Nguyễn Vĩ K2 có liên quan đến vụ việc tới trụ sở làm việc.
Tại Cơ quan Điều tra, Đỗ Minh K khai nhận: K không có việc làm ổn định, do cần tiền tiêu xài nên K nhận chở hàng là thuốc lá nhập lậu theo yêu cầu của một người tên “P” là bạn của K (không rõ lai lịch) từ đầu tháng 6 năm 2024. Trung bình mỗi ngày, K giao 05 (năm) chuyến, tiền công mỗi chuyến dao động từ 80.000 đồng – 150.000 đồng. Vào ngày 30/6/2024, P gọi điện cho K qua số điện thoại 0776.229.xxx kêu K đến nhận thuốc lá lậu tại bờ sông thuộc địa phận xã H, huyện ĐH, tỉnh Long An và chở số thuốc lá trên giao cho Phan Kim L tại trước nhà số 24/5 HL, Phường K, Quận E, nếu K chuyển thành công sẽ nhận được tiền công là 400.000 đồng. Khi đến địa điểm thỏa thuận, K giao hàng cho Nguyễn Vĩ H, Nguyễn Vĩ K2 là người làm thuê cho bà L, có nhiệm vụ nhận, khuân vác và kiểm đếm hàng hóa, sau khi kiểm tra sẽ liên lạc với bà L để giao cho khách mua. Khi K đang tiến hành giao hàng cho K2 thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện. Trong ngày 30/6/2024, K đã giao trót lọt được 04 (bốn) lần, K chưa thu lợi bất chính vì có thỏa thuận từ trước với “P” phải giao đủ cả 05 (năm) lần mới được nhận tiền công.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của K tại nhà không số, ấp TH A, xã H, huyện ĐH, tỉnh Long An, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến hành vi buôn bán hàng cấm.
Bà Phan Kim L khai nhận: Khoảng 09 giờ 00 ngày 30/6/2024, bà L có gọi điện thoại cho Đỗ Minh K đặt mua thuốc là điếu ngoại nhập lậu, sẽ nhận hàng vào khoảng 14 giờ 00 cùng ngày tại trước nhà số 24/5 HL, Phường K, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Người nhận là Nguyễn Vĩ K2 và Nguyễn Vĩ H, là người làm công mà bà L thuê để phụ việc khuân vác, nhận hàng và kiểm đếm thuốc lá điếu ngoại nhập lậu. Đến khoảng 14 giờ 15 bà L thấy K chạy xe máy đi ngang sạp bán hàng thì bà L chuẩn bị mang tiền sang trả cho K thì thấy H, K2 bị Công an kiểm tra nên bà L không dám đi sang mà tiếp tục ngồi ở sạp bán hàng, sau đó Cơ quan Công an mời về trụ sở Công an Phường làm việc. L khai mua số thuốc lá điếu nhập lậu nhằm mục đích bán lại cho người khác kiếm lời.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành lấy lời khai của Nguyễn Vĩ K2, Nguyễn Vĩ H và tiến hành đối chất, kết quả K2, H như lời trình bày của Phan Kim L.
Vật chứng thu giữ: 1499 (một ngàn bốn trăm chín mươi chín) bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu các loại gồm: 499 bao thuốc lá hiệu JET, 500 bao thuốc lá hiệu HERO, 500 bao thuốc lá hiệu SCOTT (số vật chứng sau thẩm định được đựng trong 04 (bốn) thùng cát tông đã được niêm P dán kín từ trước bên ngoài có dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký gồm các thành phần: Chủ hàng Phan Kim L, cán bộ Mai Thanh Đ, đại diện Hiệp hội thuốc lá Việt Nam: Lưu Ngọc C1); 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số Imeil: 356971098436480, Imei2: 356971099336481, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô màu đỏ ghi xám, kiểu dáng Honda Future, có gắn biển số 66K1-259.26, số khung: RLHJC7610GZ032151, số máy: JC76E0048498.
Tại công văn số 122/CV-2024-HHTLVN của Hiệp hội thuốc lá Việt Nam xác định 1499 bao thuốc lá nhãn hiệu JET, HERO và SCOTT do Công an Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh gửi thẩm định là thuốc lá điếu nhập lậu.
Bản cáo trạng số: 75/CT-VKSQ5 ngày 12/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đỗ Minh K về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo điểm e Khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đỗ Minh K về tội “Buôn bán hàng cấm”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e Khoản 1 Điều 190; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đỗ Minh K với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; về vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Đỗ Minh K không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Đỗ Minh K khai nhận bị cáo là người vận chuyển giúp cho P (đối tượng không rõ lai lịch) thực hiện việc mua bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu với bà Phan Kim L. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của các đối tượng Phan Kim L, Nguyễn Vĩ K2, Nguyễn Vĩ H, cùng với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Đỗ Minh K đã có hành vi mua thuốc lá điếu nhập lậu các loại nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang thu giữ 1499 bao thuốc là điếu nhập lậu. Mặc dù số lượng thuốc là điếu nhập lậu mà bị cáo K thực hiện mua bán dưới 1500 bao (1499 bao) nhưng trước đó bị cáo K đã bị xử phạt hành chính hành vi nêu trên (chưa thi hành xong). Do đó, hành vi của bị cáo Đỗ Minh K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e Khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã tìm kiếm mua thuốc lá điếu nhập lậu nhằm để bán lại cho người khác để kiếm lời, hành vi của bị cáo là cố ý thực hiện. Bản thân bị cáo nhiều lần bị xử phạt hành chính về các hành vi mua bán, vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, chưa chấp hành xong quyết định, còn được coi là tiền sự nhưng lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức chấp hành pháp luật chưa tốt.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước mà cụ thể là trật tự quản lý việc sản xuất, buôn bán hàng cấm là các loại thuốc lá điếu nhập lậu, làm ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của kinh tế Nhà nước. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo thực hiện hành vi mua bán thuốc là điếu nhập lậu, có nhân thân xấu nên cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và đủ sức răn đe đối với những người khác có hành vi tương tự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội vì mục đích hưởng lợi, tuy nhiên bị cáo khó khăn về kinh tế nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về khoản tiền thu lợi bất chính: Xét bị cáo đang thực hiện việc mua bán, chưa kịp nhận tiền thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang, chưa được thu lợi gì nên Hội đồng xét xử không xem xét buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính.
[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[9] Đối với đối tượng tên “P” là do bị cáo K khai, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch và chưa có căn cứ gì, Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét, khi nào bắt được sẽ xem xét xử lý sau.
Đối với lời lai của bị cáo K và các đối tượng có liên quan khai, K đã 04 (bốn) lần vận chuyển hàng cấm trót lọt trong ngày 30/6/2025 để bán thì ngoài lời khai của K và các đối tượng có liên quan thì không còn chứng cứ nào khác chứng minh số lượng thuốc lá điếu nhập lậu mà K thực hiện mua bán với số lượng là bao nhiêu, chưa xác định được có phải là thuốc là điếu nhập lậu hay không nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa đủ căn cứ để xem xét xử lý đối với K và các đối tượng có liên quan về hành vi này. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi buôn bán hàng cấm của các đối tượng Phan Kim L, Nguyễn Vĩ H, Nguyễn Vĩ K2: Do số lượng thuốc lá điếu mà các đối tượng buôn bán là 1499 bao (dưới mức quy định), bản thân các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự. Ngoài ra, đối với các lần mua bán trước đây không xác định được lai lịch của khách mua số thuốc lá nhập lậu, không thu hồi được số thuốc lá điếu đã bán trước đó để phục vụ công tác giám định nên hành vi của các đối tượng chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách hành vi và đồ vật, tài liệu có liên quan để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
[10] Về vật chứng:
Xét số vật chứng sau thẩm định được đựng trong 04 (bốn) thùng cát tông đã được niêm phong dán kín từ trước bên ngoài có dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký gồm các thành phần: Chủ hàng Phan Kim L, cán bộ Mai Thanh Đ, đại diện Hiệp hội thuốc lá Việt Nam: Lưu Ngọc C1 là vật phạm pháp nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy.
Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số Imeil: 356971098436480, Imei2: 356971099336481, đã qua sử dụng là tài sản cá nhân của bị cáo K, sử dụng liên lạc vào việc mua bán hàng cấm nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Xét 01 (một) xe mô tô màu đỏ ghi xám, kiểu dáng Honda Future, có gắn biển số 66K1-259.26, số khung: RLHJC7610GZ032151, số máy: JC76E0048498 do ông Nguyễn Văn T1 đứng tên chủ sở hữu, hiện nay ông T1 đi đâu không rõ, bị cáo K khai chiếc xe trên là của đối tượng tên P, đua cho bị cáo sử dụng để thực hiện việc vận chuyển mua bán hàng cấm nên Hội đồng xét xử cần giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian nhất định, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm e Khoản 1 Điều 190; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đỗ Minh K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2024.
Căn cứ điểm a, c Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: số vật chứng sau thẩm định được đựng trong 04 (bốn) thùng cát tông đã được niêm phong dán kín từ trước bên ngoài có dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký gồm các thành phần: Chủ hàng Phan Kim L, cán bộ Mai Thanh Đ, đại diện Hiệp hội thuốc lá Việt Nam: Lưu Ngọc C1.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số Imeil: 356971098436480, Imei2: 356971099336481, đã qua sử dụng.
Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp của 01 (một) xe mô tô màu đỏ ghi xám, kiểu dáng Honda Future, có gắn biển số 66K1-259.26, số khung: RLHJC7610GZ032151, số máy: JC76E0048498 trong thời hạn 03 (ba) tháng, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2025 tại Chi Cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thanh Tiền |
Bản án số 76/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh về hình sự - buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 76/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Minh K - Buôn bán hàng cấm
