|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2025/HS-ST
Ngày 15 tháng 4 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nga
Thẩm phán: Ông Lê Văn Quân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Công Quyền
2. Ông Nguyễn Danh Lơi
3. Ông Nguyễn Quốc Nông
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hằng T - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST- HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48 /2025/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Kiều Văn H, sinh năm 1991; tên gọi khác: không; nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Văn H1 - sinh năm 1970 và bà Phí Thị T1 - sinh năm 1969; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu; vợ là Nguyễn Thị C (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2012; tiền án: ngày 25/9/2018 bị TAND huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản, thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án; tiền sự: không; nhân thân: ngày 24/6/2022 bị TAND huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội xử phạt 17 năm tù về tội Lừa đảo CĐTS, Làm giả con dấu tài liệu, Trộm cắp tài sản; ngày 28/3/2022, TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Lừa đảo CĐTS; ngày 08/12/2022, TAND thành phố Hà Nội xử phạt 9 năm 6 tháng tù về tội Lừa đảo CĐTS, Làm giả con dấu tài liệu; ngày 22/7/2024, TAND thành phố Hà Nội xử phạt 15 năm tù về tội Lừa đảo CĐTS, Làm giả con dấu tài liệu. Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam V, Bộ C2; (có mặt).
* Bị hại: Công ty TNHH D
Đại diện theo pháp luật: anh Phùng Gia C1 – sinh năm 1980
Địa chỉ: thôn X, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Kiều Văn H là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, thời điểm năm 2020, 2021, do thấy trên mạng xã hội có nhiều người đăng bài đặt mua hàng hóa với số lượng tiền lớn nên H đã nảy sinh ý định lợi dụng mạng xã hội sử dụng thủ đoạn giả danh cá nhân, công ty có thể cung cấp hàng hóa liên hệ tạo lòng tin với người có nhu cầu để họ tin tưởng chuyển tiền đặt mua hàng sau đó chiếm đoạt.
Ngày 22/7/2021, Kiều Văn H thấy trên mạng xã hội có tài khoản của anh Phùng Gia C1 – Giám đốc công ty TNHH D ở thôn X, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đăng bài tìm nguồn mua sắt thép các loại với số lượng lớn nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh C1. Huấn lên mạng đặt mua (của người không biết rõ tên, địa chỉ) 01 tài khoản ngân hàng M mang tên Nguyễn Văn T2 với giá 01 triệu đồng và thuê 01 sim điện thoại số 0949.211.xxx với giá 2 triệu đồng/tháng của anh Cao Cự Đ. Sau đó, H sử dụng số điện thoại này đăng ký tài khoản zalo tên Nguyễn Văn T2 và liên hệ với anh Phùng Gia C1, H giới thiệu tên là T2, làm việc tại Công ty TNHH T3, địa chỉ tại Phố B, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên (là công ty không có thật, do H tự đặt ra) có thể bán cho anh C1 số lượng hàng hóa sắt thép theo yêu cầu. Sau đó, H tiếp tục tìm kiếm trên mạng xã hội nhà cung cấp sắt thép, qua giới thiệu, H (với tên là Nguyễn Văn T2) liên hệ với công ty TNHH S để nhận báo giá. Sau khi nhận được báo giá, H tạo hình ảnh hóa đơn bán hàng với mức giá thấp hơn giá của công ty S để gửi cho anh C1, hai bên thỏa thuận số lượng hàng hóa mua bán với tổng số tiền 552.800.000đ, ngày 26/7/2021 sẽ giao hàng tại địa chỉ công ty của anh C1, anh C1 phải thanh toán đủ tiền cho T2 (tức là H) thì mới được bốc hàng xuống. Để chiếm đoạt được tiền của anh C1, H đặt cọc số tiền 4.000.000đ cho công ty S để công ty tin tưởng vận chuyển sắt thép đến địa chỉ công ty của anh C1. Khi xe chở hàng của công ty S vận chuyển hàng đến nơi đã thông báo yêu cầu H thanh toán đủ tiền mới bốc hàng xuống, H đã gọi điện cho anh C1 yêu cầu chuyển tiền thì mới được bốc hàng xuống xe, do thấy xe chở hàng đã đến nên anh C1 tin tưởng chuyển toàn bộ số tiền 552.800.000đ vào tài khoản 223456781978 mang tên Nguyễn Văn T2. Sau khi nhận tiền, H cắt liên lạc với anh C1 và chuyển tiền vào các tài khoản khác nhau, sau đó chuyển tiền vào tài khoản mang tên Kiều Văn H và chiếm đoạt, chi tiêu cá nhân. Anh Phùng Gia C1 sau khi chuyển tiền không thấy hàng bốc xuống nên đã tìm hiểu và biết việc Kiều Văn H đã tạo thông tin gian dối đối với anh và công ty S nhằm mục đích chiếm đoạt tiền.
Quá trình điều tra xác định thông tin chủ tài khoản 223456781978 mang tên Nguyễn Văn T2, sinh năm 1978, có địa chỉ tại xóm L, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định, tuy nhiên anh T2 khẳng định không mở và không sử dụng tài khoản này. Đối với số điện thoại 0949.211.xxx, anh Cao Cự Đ khai báo khoảng tháng 7/2021 có trao đổi với chủ thuê bao số điện thoại 0829.929.xxx (mang tên Kiều Văn H) để cho thuê sim 0949.211.111 với giá 2 triệu đồng/tháng, sau đó khoảng 01 tháng không thấy người thuê liên hệ thuê tiếp nên anh Đ đã thu hồi lại sim. Lời khai của anh T2 và anh Đ phù hợp với lời khai của Kiều Văn H. Quá trình điều tra, Kiều Văn H khai nhận toàn bộ nội dung diễn biến hành vi phạm tội, lời khai của bị can phù hợp với lời khai người bị hại, người liên quan, người làm chứng, tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án.
Kết quả xác minh tại công an phường B, chi cục thuế khu vực M1 - V, Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh H xác định không có công ty TNHH T3 tại phố B, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên và không xác định được đối tượng Nguyễn Văn T2.
Anh Phùng Gia C1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ tiền đã chiếm đoạt.
Do đó, có đủ căn cứ xác định Kiều Văn H đã đưa ra thông tin gian dối về việc có thể cung cấp số lượng hàng hóa theo yêu cầu để anh C1 tin tưởng chuyển tiền cho H và H đã chiếm đoạt số tiền 552.800.000 đồng của anh.
Đối với hành vi thuê, cho thuê số điện thoại của Kiều Văn H và anh Cao Cự Đ xảy ra năm 2021, đến nay đã hết thời hiệu xử lý hành chính nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với hành vi mua các tài khoản ngân hàng với mục đích chuyển, nhận tiền của Kiều Văn H, do chưa đủ căn cứ xử lý theo quy định tại Điều 291 BLHS và đã hết thời hiệu xử phạt hành chính nên cơ quan điều tra không xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại anh Phùng Gia C1 yêu cầu Kiều Văn H phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt là 552.800.000 đồng và đề nghị xử lý nghiêm hành vi của bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại Bản Cáo trạng số 06/CT-VKS-KT ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Kiều Văn Huấn về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản Cáo trạng nêu là đúng.
Bị hại không có kiến gì về lời khai của bị cáo; bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự: đối với số tiền 552.800.000 đồng bị H chiếm đoạt, bị hại đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng. Đồng thời, đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS; tuyên bố bị cáo Kiều Văn H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 13 năm đến 14 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bị hại; Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589 BLDS, đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt là 552.800.000 đồng; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận, lời nói sau bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội, thành thật xin lỗi bị hại; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa một lần nữa bị cáo khai nhận: Ngày 22/7/2021, Kiều Văn H thấy trên mạng xã hội có tài khoản của anh Phùng Gia C1 – Giám đốc công ty TNHH D ở thôn X, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đăng bài tìm nguồn mua sắt thép các loại với số lượng lớn nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh C1. Huấn lợi dụng mạng xã hội, sử dụng thủ đoạn giả danh công ty TNHH T3 có thể cung cấp hàng hóa sắt thép rồi liên hệ với anh Phùng Gia C1 để anh tin tưởng chuyển tiền đặt mua hàng, sau đó chiếm đoạt của anh C1 số tiền 552.800.000 đồng.
Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai của bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Kiều Văn H có đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Số tiền bị cáo chiếm đoạt là 552.800.000₫ nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Để có tiền chi tiêu cá nhân bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối, lợi dụng lòng tin của bị hại để chiếm đoạt tài sản với mục đích chi tiêu cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo.
[4] Về nhân thân và trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
[4.1] Bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án, trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt lớn và chưa bồi thường cho bị hại, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Do vậy, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, giáo dục bị cáo, phòng ngừa tội phạm cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, xử phạt tù giam đối với bị cáo.
[4.2]. Sau khi thực hiện hành vi bị xét xử trong vụ án này: Ngày 24/6/2022, bị cáo bị TAND huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội xử phạt 17 năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ chức, Trộm cắp tài sản; Ngày 28/3/2022 TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử 24 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Ngày 08/12/2022, TAND thành phố Hà Nội xử 9 năm 6 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ chức; Ngày 22/7/2024, TAND thành phố Hà Nội xử phạt 15 năm tù về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Hành vi của bị cáo trong vụ án này xảy ra trước khi có bản án trên. Các bản án trên đều đã có hiệu lực pháp luật. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 BLHS để tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật hình sự. Bị cáo được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam trong các bản án.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt, bị cáo chưa bồi thường cho bị hại. Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 552.800.000 đồng; Căn cứ Điều 48 BLHS; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589 BLDS chấp nhận yêu cầu của bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 552.800.000 đồng
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Tuyên bố: Bị cáo Kiều Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Kiều Văn H 13 (mười ba) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 17 năm tù về tội Lừa đảo CĐTS, Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ chức; Trộm cắp tài sản tại bản án ngày 24/6/2022 của TAND huyện Thạch Thất, TP .; 24 tháng tù về tội Lừa đảo CĐTS tại bản án ngày 28/3/2022 của TAND quận Bắc Từ Liêm, TP .; 9 năm 6 tháng tù về tội Lừa đảo CĐTS, Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ chức tại bản án ngày 08/12/2022 của TAND thành phố Hà Nội; 15 năm tù về tội Lừa đảo CĐTS, Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ chức tại bản án số 402/2024/HSST ngày 22/7/2024 của TAND thành phố Hà Nội; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 05 bản án là 30 (ba mươi) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt truy nã 28/8/2021, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam (từ 10/6/2018 – 08/8/2018) của bản án số 402/2024/HSST ngày 22/7/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589 BLDS: buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền: 552.800.000 đồng;
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135; 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a,c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST và 26.112.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Nga |
Bản án số 76/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 76/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
