Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

 

Bản án số: 76/2025/HS-ST

Ngày: 15 - 04 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Chánh Bổn;
  2. Ông Lý Và Dưỡng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Lượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.

***

Hôm nay, ngày 15 tháng 04 năm 2025, tại Hội trường xét xử A, tầng trệt - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 03 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 03 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 152/HPT-QĐ ngày 27 tháng 03 năm 2025 đối với:

  1. Bị cáo Lữ Minh T, sinh ngày 18/10/1991, tại Đồng Nai; Nơi cư trú trước khi bị bắt: Tổ G, ấp A, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lữ Minh T1, sinh năm 1962 và bà Lê Thị H, sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 02 chị em ruột, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo có vợ Nguyễn Thị S, sinh năm 1991 và 02 con ruột, con lớn sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị bắt, tạm giam ngày 06/5/2024, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện Đ – Trại tạm giam Công an tỉnh Đ từ đó cho đến nay.

  3. Bị cáo Lê Văn N, sinh ngày 16/6/1989, tại Đồng Nai; Nơi cư trú hiện nay: Tổ A, ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Văn T2, sinh năm 1960 và bà Vũ Thị D, sinh năm 1963; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Bị cáo có vợ tên Lữ Thị Thanh T3, sinh năm 1989 và 03 con ruột, con lớn sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/04/2024, đến ngày 17/04/2024 được trả tự do; sau đó được khởi tố tại ngoại, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 25/4/2024 từ đó cho đến nay.

  5. Bị hại: Anh Nguyễn Phúc T4, sinh năm 1997 (Đã chết).
  6. Nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

    Người đại diện hợp pháp của bị hại gồm: Ông Nguyễn Hữu T5, sinh năm 1966 và bà Võ Thị L, sinh năm 1972 (Cha mẹ ruột bị hại) và anh Nguyễn Phúc H1, sinh năm 1995 (Anh ruột bị hại).

    Cùng địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

    Người đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ B, ấp A, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Theo giấy ủy quyền ngày 22/04/2024.

(Các bị cáo T, N và ông P có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lữ Minh T là người không có giấy phép lái xe ôtô tải theo quy định. Vào khoảng 19 giờ 05 phút ngày 14/4/2024, T điều khiển xe ôtô tải biển số 60C-581.69 chở Nguyễn Văn M (em ruột vợ T) đến ấp V, xã L, huyện Đ, lấy nước về sinh hoạt. Đến khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, T điều khiển xe ô tô lưu thông trên Quốc lộ B (hướng T - T) để về nhà. Khi đến Km 30 + 600m thuộc ấp P, xã L, huyện Đ, T bật đèn tín hiệu bên trái, điều khiển xe chuyển hướng qua phần đường bên trái vào nhà, khi đang điều khiển xe qua đường thì anh Nguyễn Phúc T4, sinh năm 1997, cư trú tại: Ấp P, xã L, huyện Đ, điều khiển xe mô tô biển số 60B4-541.32 (lưu thông hướng T - T) chạy đến đụng vào bên phải hông xe ô tô tải do T điều khiển. Sau khi xảy ra tai nạn, T điều khiển xe ô tô vào bên trong lề đường rồi đi xuống kiểm tra thì phát hiện anh T4 đã chết tại hiện trường. Lúc này, Lê Văn N (là anh rể của T), sinh năm 1989, cư trú tại: ấp P, xã L, huyện Đ đang ở trong nhà T đi ra, T nói với N là chưa có giấy phép lái xe gây tai nạn chết người sẽ bị tội nặng hơn nên nhờ N nhận tội thay giúp cho T thì N đồng ý. Sau đó, N đến Công an huyện Đ, đầu thú khai nhận mình là người điều khiển xe ô tô trên gây ra tai nạn giao thông với xe mô tô do anh T4 điều khiển. Hậu quả: Anh Nguyễn Phúc T4 chết tại hiện trường.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

  • Hiện trường vụ tai nạn là đoạn đường thẳng, ngoài khu vực đông dân cư, có vạch kẻ đường đứt đoạn màu vàng ở giữa chia thành 02 chiều đường xe chạy, mỗi chiều đường rộng 05m50, mặt đường nhựa bằng phẳng, khô ráo;
  • Chọn trụ điện số 4325/01/053 làm mốc, chọn mép đường bên phải theo hướng huyện T - huyện T làm chuẩn:
    • Vết chà bánh xe mô tô biển số 60B4-541.32: Vết chà in hằn trên mặt đường, không liền nét chiều hướng T – Thống Nhất, dài 11m30, điểm đầu vết chà cách mốc và cách mép đường chuẩn là 05m90 và 02m30, điểm cuối vết chà cách mép đường chuẩn 01m40;
    • Vết cày xe mô tô biển số 60B4-541.32: Vết cày hằn trên mặt đường không liền nét chiều hướng T - T, điểm đầu vết cày cách điểm cuối vết chà bánh xe mô tô biển số 60B4-541.32 và cách mép đường chuẩn là 0m80 và 01m80, điểm cuối vết cày cách mép đường chuẩn là 01m90;
    • Vị trí nạn nhân: Nạn nhân nằm ngửa trên đường đầu quay về hướng vạch kẻ đường ở giữa, đầu nạn nhân cách điểm cuối vết cày xe mô tô biển số 60B4-541.32 và cách mép đường chuẩn lần lượt 02m10 và 02m00;
    • Xe mô tô biển số 60B4-541.32: Ngã nghiêng sang trái nằm ở phần đất bên ngoài mép đường chuẩn. Trục bánh trước xe mô tô cách đầu nạn nhân và cách mép đường chuẩn là 06m60 và 03m80, trục bánh sau xe mô tô cách mép đường chuẩn 02m60;
    • Xe ô tô tải biển số 60C-581.69: Dừng lại ở phần đường đất bên ngoài mép đường chuẩn, đầu xe quay vào hướng trong nhà dân. Trục bánh trước bên phải xe ô tô biển số 60C-581.69 cách trục bánh trước xe mô tô 60B4-541.32 và cách mép đường chuẩn là 02m10 và 05m70. Trục bánh sau ngoài cùng bên phải cách mép đường chuẩn 03m00.
  • Kết quả khám nghiệm phương tiện:
    • Xe ô tô tải biển số 60C-581.69: Phần cảng hông bên phải bị cong móp vào trong và cong lệch về sau; B chứa xăng bị móp thụng vào trong;
    • Xe mô tô biển số 60B4-541.32: Nhựa ốp yếm xe bên phải bể vỡ hoàn toàn; Nhựa ốp đèn hậu, đèn xi nhan sau bên phải bể vỡ; Nhựa ốp đuôi xe, sườn xe phía sau hai bên bể vỡ; Ốp sườn xe phía sau bể vỡ bám dính nhiều đất; Đầu tay cầm bên phải, cần thắng tay phải bị cong vênh chà mòn; Đầu gác chân bên trái bị rách phần cao su đệm, có vết chà mòn kim loại.
  • Kết quả giám định tình trạng kỹ thuật phương tiện: Căn cứ Bản kết luận giám định số: 308/TTĐKXCG ngày 26/05/2024, của Trung tâm Đ, kết luận: Tình trạng kỹ thuật của xe ô tô biển số 60C-581.69 tại thời điểm kiểm tra: Các hệ thống phanh, hệ thống lái, hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu, lốp xe bình thường và tốc độ xe ô tô tải biển số 60C-581.69 và xe mô tô biển số 60B4-541.32 không có cơ sở để xác định.
  • Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ, Lữ Minh T và Lê Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân (Các bút lục từ số 88-105).
  • Căn cứ Bản kết luận giám định tử thi số:128/KLGĐTT-TTPYĐN ngày 30/05/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận:
    • Nguyên nhân chết: Đa chấn thương:
      • Chấn thương sọ não hở gây vỡ sọ trán phải lan xuống sàn sọ phức tạp có nhiều mảnh sọ rời. Rách màng não, dập não và thoát tổ chức não ra ngoài;
      • Chấn thương mặt gây gãy vỡ sụp xương ổ mắt phải; gãy xương gò má phải, gãy xương hàm trên và xương hàm dưới phải;
      • Kết hợp chấn thương gây gãy đầu dưới xương cánh tay trái và trật khớp cổ chân trái;
    • Kết luận khác:
      • Nồng độ cồn trong máu: Nồng độ ethanol trong máu toàn phần: 0,09 mg/100ml (Theo quyết định 320/QĐ-BYT ngày 23/01/2014, trị số bình thường <50,23 mg/100ml).
      • Độc chất: Mẫu máu tĩnh mạch có sự hiện diện của A (paracetamol) (thuốc giảm đau, hạ sốt) và C (chất kích thích thần kinh trung ương yếu).
  • Vật chứng vụ án:
    • Đối với 01 xe mô tô biển số 60B4-541.32, nhãn hiệu Honda, số loại: Winner, màu sơn: xanh-đỏ-đen, số máy: KC26E1000307, số khung: 2609GY200146. Quá trình điều tra xác định xe mô tô biển số 60B4-541.32, là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Phúc T4. Cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho gia đình anh T4 (Bút lục số 73);
    • Đối với 01 xe ô tô biển số 60C-581.69, nhãn hiệu Kia, số loại: Frontier, màu sơn: xanh, số máy: LD528296D4CB, số khung: RNHA39KHAMT031825. Quá trình điều tra xác định xe ô tô biển số 60C-581.69, là tài sản hợp pháp của Lê Văn N. Cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu (Bút lục số 74).
  • Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, Lữ Minh T và Lê Văn N đã bồi thường cho gia đình anh Nguyễn Phúc T4 số tiền 250.000.000 đồng. Gia đình anh T4 đã nhận đủ số tiền trên và làm đơn bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự đối với Lữ Minh T và Lê Văn N và không yêu cầu bồi thường gì thêm (Bút lục số 77, 78).
  • Tại Cáo trạng số 300/CT/VKSĐQ ngày 01/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Lữ Minh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Khai báo gian dối” quy định tại khoản 1 Điều 382 của Bộ luật hình sự.
  • Sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, ngày 11/12/2024, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Định Quán ban hành Quyết định trả hồ sơ số 50/2024/HSST-QĐ, trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán để điều tra bổ sung gồm:
    1. Tiến hành đối chất, làm việc giữa các bị cáo T, N và người làm chứng Nguyễn Văn M để làm rõ: Tại thời điểm bị cáo T gây tai nạn giao thông, bị cáo N có giao xe ôtô tải, biển số 60C-581.69, nhãn hiệu Kia, số loại: Frontier, màu sơn: xanh cho bị cáo T hay không và nếu có giao thì có biết bị cáo Lữ Minh T là người không có giấy phép lái xe ôtô tải mà vẫn giao không?
    2. Từ đó xác định, làm rõ bị cáo Lê Văn N có dấu hiệu phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ” hay không?
  • Sau khi nhận hồ sơ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 109/QĐ-VKS-HS ngày 20/02/2024 cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã tiến hành điều tra, bổ sung; đến ngày 27/02/2025, ban hành Văn bản số 86/ĐTTH, thông báo kết quả điều tra bổ sung, xác định: Lữ Minh T tự ý lấy xe ôtô tải biển số: 60C-581.69 của Lê Văn N đi chở nước, trên đường về thì xảy ra tai nạn giao thông dẫn đến hậu quả chết người. Lê Văn N không biết T có giấy phép lái xe hay không, N không giao xe cho T. Do đó, hành vi của Lê Văn N chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 264 Bộ luật hình sự. Đến ngày 05/03/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán ban hành văn bản số 70/CV-VKS-HS, thông báo kết quả điều tra, bổ sung; thống nhất với kết quả điều tra bổ sung của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ và giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo T và N.
  • Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 382; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 54, 65 và 58 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Lữ Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và bị cáo Lê Văn N phạm tội “Khai báo gian dối”; xử phạt: bị cáo Lữ Minh T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù và bị cáo N từ 04 tháng đến 06 tháng nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo theo quy định pháp luật.
  • Tại phiên toà, các bị cáo T, N thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, không có ý kiến tranh luận đối với phần trình bày luận tội của đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
  • Tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại là ông Nguyễn Hữu P không có ý kiến, tranh luận đối với bản cáo trạng và phần trình bày luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ về trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với các bị cáo T và N. Về vấn đề bồi thường: Sau khi tai nạn xảy ra, các bị cáo Lữ Minh T và Lê Văn N đã bồi thường cho gia đình bị hại anh Nguyễn Phúc T4 số tiền 250.000.000 đồng, gia đình anh T4 đã nhận đủ số tiền trên và gia đình anh T4, người đại diện hợp pháp cho anh T4 và ông không yêu cầu các bị cáo T và N phải bồi thường gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ nhưng thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai quy định tại Điều 280, 281 và khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gồm Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

  2. Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
    1. Những chứng cứ xác định hành vi bị truy tố có tội và tội danh:

      Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Lữ Minh T và Lê Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 14/04/2024, Lữ Minh T (không có giấy phép lái xe ôtô theo quy định) điều khiển xe ôtô tải biển số: 60C-581.69, lưu thông trên Quốc lộ B (hướng T - huyện T) để về nhà. Khi đến Km 30 + 600m thuộc ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, T bật đèn tín hiệu bên trái, điều khiển xe chuyển hướng qua phần đường bên trái vào nhà, khi đang điều khiển xe qua đường thì anh Nguyễn Phúc T4, điều khiển xe môtô biển số 60B4-541.32 (lưu thông hướng T - T) chạy đến đụng vào bên phải hông xe ôtô tải do T điều khiển. Hậu quả: Anh Nguyễn Phúc T4 chết tại hiện trường. Ngay sau xảy ra tai nạn, Lê Văn N (là anh rể của T), đang ở trong nhà T đi ra, T nói với N là chưa có giấy phép lái xe gây tai nạn chết người sẽ bị tội nặng hơn nên nhờ N nhận tội thay giúp cho T thì N đồng ý. Sau đó, tối cùng ngày 14/4/2024, Nam đến Công an huyện Đ đầu thú khai nhận mình là người điều khiển xe ôtô trên gây ra tai nạn giao thông với xe môtô do anh T4 điều khiển. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong bản tự khai/bản tường trình của bị cáo, biên bản hỏi cung các bị can, biên bản ghi lời khai các bị can; biên bản ghi lời khai người làm chứng; biên bản đối chất, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định phương tiện, kết luận giám định pháp y về tử thi cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

      Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong vụ án, hành vi do bị cáo Lữ Minh T thực hiện đã vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 2 Điều 15 của Luật giao thông đường bộ và phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự; còn hành vi của bị cáo Lê Văn N thực hiện đã phạm tội “Khai báo gian dối” quy định tại khoản 1 Điều 382 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

      Ngoài ra, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các bị cáo T và N tại phiên tòa xác định: Ngày 14/04/2024, Lữ Minh T tự ý lấy xe ôtô tải biển số: 60C-581.69 của Lê Văn N đi chở nước, trên đường về thì xảy ra tai nạn giao thông dẫn đến hậu quả chết người, Lê Văn N không biết T không có giấy phép lái xe và cũng không giao xe cho T đi gây tai nạn giao thông trong vụ án. Do đo, hành vi của Lê Văn N chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 264 của Bộ luật hình sự.

    2. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
    3. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi sự việc tai nạn xảy ra, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục toàn bộ hậu quả cho gia đình bị hại; đại diện bị hại đã có đơn bãi nại xin miễn trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; ngoài ra, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện tính nhân đạo pháp luật nhà nước ta.
    4. Bản thân các bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên nhận thức, hiểu biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn bất chấp phạm tội. Bị cáo T không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng vẫn điều khiển xe ôtô tải lưu thông trên đường, khi chuyển hướng qua đường không đảm bảo an toàn nên gây tai nạn giao thông với xe môtô do anh Nguyễn Phúc T4 điều khiển, hậu quả làm anh T4 chết tại hiện trường, lỗi gây tai nạn giao thông hoàn toàn do bị cáo. Còn bị cáo N biết sự việc tai nạn giao thông và khi bị cáo T nói T không có bằng lái nên nhờ N đứng ra nhận thay là người gây tai nạn giao thông thì N đồng ý, sau đó đến Cơ quan Công an đầu thú, khai nhận gian dối N là người điều khiển xe ôtô tải, gây ra tai nạn giao thông cho anh T4 trong vụ án. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo T đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, tạo tâm lý bất an cho những người tham gia giao thông; còn hành vi bị cáo N đã xâm phạm sự đúng đắn của hoạt động tố tụng, gây khó khăn cho quá trình điều tra vụ án.

    Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy: Lỗi gây tai nạn giao thông trong vụ án do của bị cáo T nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung; tuy nhiên, xét bị cáo T có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, vì vậy áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử quyết định giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và cho bị cáo hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo, để thể hiện sự khoan hồng và nhân đạo của pháp luật nhà nước ta. Đối với bị cáo N có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên để thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật nhà nước ta, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội, việc không áp dụng hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và bị cáo có khả năng tự cải tạo nên áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và các quy định của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018, Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 04 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo; ấn định thời gian thử thách theo quy định và miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo N cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

  3. Xử lý vật chứng:
    • Đối với 01 xe môtô biển số 60B4-541.32, nhãn hiệu Honda, số loại: Winner, màu sơn: xanh-đỏ-đen, số máy: KC26E1000307, số khung: 2609GY200146, quá trình điều tra xác định xe môtô này là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Phúc T4, Cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý vật chứng và trao trả cho gia đình anh T4 là phù hợp;
    • Đối với 01 xe ôtô biển số 60C-581.69, nhãn hiệu Kia, số loại: Frontier, màu sơn: xanh, số máy: LD528296D4CB, số khung: RNHA39KHAMT031825. Quá trình điều tra xác định xe ôtô này là tài sản hợp pháp của bị cáo Lê Văn N, Cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý vật chứng và trao trả cho bị cáo N là phù hợp.
  4. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và vấn đề dân sự:

    Sau khi tai nạn xảy ra, các bị cáo Lữ Minh T và Lê Văn N đã bồi thường cho gia đình anh Nguyễn Phúc T4 số tiền 250.000.000 đồng, gia đình anh T4 đã nhận đủ số tiền trên và gia đình anh T4, người đại diện hợp pháp của anh T4 không yêu cầu các bị cáo T và N bồi thường gì thêm. Vì vậy, đối với vấn đề bồi thường thiệt hại và trách nhiệm dân sự, không đặt ra xem xét, giải quyết.

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí theo quy định.
  6. Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng tại phiên tòa:

    Đối với phần trình bày luận tội của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

    Đối với phần trình bày, lời nói sau cùng của các bị cáo tại phiên tòa và phần trình bày của người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 9 Điều 8, khoản 2 Điều 15 của Luật giao thông đường bộ;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 382, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 58, 38, 65 và Điều 54 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ Điều 136, 260, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, các Điều 280, 281, 298, 299, 326, 331, 333, 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Áp dụng Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Lữ Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Khai báo gian dối”.

  3. Xử phạt bị cáo Lữ Minh T 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/05/2024.
  4. Xử phạt bị cáo Lê Văn N 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo N cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo T và N.

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm:
  6. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Các bị cáo T, N và người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Uỷ ban nhân dân xã La Ngà;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán;
  • - Phòng PC 10 thuộc Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 76/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lữ Minh Thuận và đồng phạm phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger