TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2025/HS-ST Ngày: 12/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Chính
2. Bà Nguyễn Thị Kim Huệ
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký viên Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2025/QĐXXST-HS ngày 20/10/2025; Thông báo hoãn phiên tòa số 869/TB-TA ngày 21/11/2025; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 987/TB-TA ngày 05/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Nông Ngọc H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 26/02/1979 tại xã M, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, phường T, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở hiện nay: Nhà văn hóa thuộc tổ A, phường T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông: Nông Ngọc H1, sinh năm 1935 (đã chết); Con bà: Lý Thị C, sinh năm 1940 (đã chết); Vợ: Nguyễn Hồng L, sinh năm 1983; trú tại: Tổ A, phường T, tỉnh Cao Bằng; Con: có 2 con sinh năm 2007 và 2012.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/9/2025 đến nay; có mặt.
- Bị hại: Lương Thanh T; sinh năm 1995; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Phố C, phường T, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị Nhật L1; sinh năm 1997; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Phố C, phường T, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Người làm chứng: Phan Thanh T1; sinh năm: 1991; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 9 năm 2023, Lương Thanh T có nhu cầu làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 64 có địa chỉ tại phố C, phường T, tỉnh Cao Bằng. Qua sự giới thiệu của Phan Thanh T1 (sinh năm: 1991; Trú tại: xóm Đ, phường T, tỉnh Cao Bằng), T liên hệ với Nông Ngọc H và nói với H về việc muốn làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi đó, H là lao động tự do, không công tác tại các cơ quan có thẩm quyền và không có mối quan hệ liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do muốn có tiền để chi tiêu cá nhân nên H vẫn nói với T có thể làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho T trong thời hạn 06 tháng, với điều kiện T phải chuyển trước cho H số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) để H lo thủ tục chi T đồng ý. Để hợp thức hóa việc nhận số tiền trên, H đã viết giấy vay tiền với T với nội dung vay tiền để sửa chữa nhà. Ngày 05/10/2023, Lương Thanh T chuyển khoản số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) đến tài khoản A 8300205144923 của Nông Ngọc H và ngày 06/10/2023, T chuyển khoản tiếp số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) còn lại. Sau khi nhận được tổng số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), H không thực hiện bất cứ thủ tục nào liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho T mà đã sử dụng toàn bộ số tiền trên để chi tiêu cá nhân hết. Khi hết thời hạn 06 tháng, H nhiều lần hứa hẹn sẽ làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho T nhưng sau đó H không thực hiện và cũng không trả lại tiền, nên đến ngày 20/7/2025, T có đơn trình báo đề nghị Cơ quan Công an giải quyết.
Hành vi của Nông Ngọc H đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKSKV1 ngày 03/11/2025 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nông Ngọc H về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nông Ngọc H thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Về trách nhiệm dân sự: Trước khi xét xử, bị cáo và bị hại đã thỏa thuận thống nhất như sau: Bị cáo đã trả lại cho bị hại tổng số tiền là 100.000.000 đồng, còn số tiền 7.500.000 đồng là tiền lãi của 100.000.000 đồng mỗi tháng bị cáo có trách nhiệm thanh toán cho bị hại 1.000.000 đồng, tháng cuối cùng thanh toán 1.500.000 đồng, thời gian thực hiện từ tháng 01 năm 2026 cho đến khi thanh toán hết số tiền 7.500.000 đồng.
Bị hại Lương Thanh T xác nhận số tiền 100.000.000 đồng chuyển khoản cho bị cáo là tài sản chung của bị hại và vợ là bà Ngô Thị Nhật L1, nội dung thỏa thuận về trách nhiệm dân sự đúng như bị cáo trình bày, do bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong nên không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Nhật L1 nhất trí với ý kiến của bị hại về vấn đề bồi thường, không yêu cầu hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nông Ngọc H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo Nông Ngọc H từ 30 tháng từ đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra vấn đề xem xét do bị cáo và bị hại đã tự thỏa thuận được với nhau.
Về xử lý vật chứng: không có.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định:
Do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên khoảng tháng 9 năm 2023, Nông Ngọc H đã dùng thủ đoạn gian dối (nhận làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mặc dù bản thân không có chức vụ, quyền hạn gì liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) để chiếm đoạt của Lương Thanh T số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được, H đã sử dụng vào mục đích cá nhân hết.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo tin nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã trả lại cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường và không yêu cầu hội đồng xét xử giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù mà có căn cứ cho bị cáo hưởng sự khoan hồng và tính nhân đạo của pháp luật để cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo và không ảnh hưởng đến công tác phòng ngừa tội phạm ở địa phương.
[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng...”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có chỗ ở, đang phải đi ở nhờ nhà văn hóa. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[08] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
[09] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nông Ngọc H phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt: Bị cáo Nông Ngọc H 33 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/12/2025).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử buộc bị cáo Nông Ngọc H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đinh Thị Hoài Phương |
Bản án số 76/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CAO BẰNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)
- Số bản án: 76/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - NNH
