Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2025/HS-ST

Ngày: 10 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quang Huy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang Vinh

Bà Đỗ Thị Thu Hương

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Trung Dũng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, xét xử sơ công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2025 đối với

- Các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thanh S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 23 tháng 7 năm 1991 tại: Đồng Nai; Nơi thường trú: 5 Tổ 1, KP3, Phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Trương Văn T, sinh năm 1955; Con bà: Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1964; Gia đình có 02 anh em, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất là bị cáo; Vợ, con: chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2024, hiện nay đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Đ - Công an tỉnh L. (Có mặt)

2. Họ và tên: Trần Thanh L1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 26 tháng 7 năm 1994 tại: Long An; Nơi cư trú: Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông: Trần Văn H (đã chết); Con

bà: Đoàn Thị Hồng T1, sinh năm 1972; Gia đình có 02 chị em, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất là bị cáo; Vợ, con: chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2024, hiện nay đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Đ - Công an tỉnh L. (Có mặt)

- Bị hại:

Chị Huỳnh Thị Kim H1, sinh năm 1981. Địa chỉ: 9 P, phường A, thành phố Đ. (có đơn xin vắng mặt)

- Người làm chứng:

Anh Nguyễn Thanh P, sinh năm 1979. Địa chỉ: 9 P, phường A, thành phố Đ (vắng mặt)

Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1984. Địa chỉ: F H, phường E, thành phố Đ (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thanh L1 và Nguyễn Thanh S là đối tượng không có việc làm ổn định và cùng là thành viên của hội nhóm “Hội Những Người Vỡ Nợ Muốn Làm Liều” trên mạng xã hội Facebook. Ngày 18/10/2024, L1 sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook mang tên “Thích Thì Đến” đăng bài viết lên nhóm “Hội Những Người Vỡ Nợ Muốn Làm Liều” với nội dung “Cuộc sống bế tắc quá, có ai cú tôi không, lang thang tuần nay không còn ngàn” thì Nguyễn Thanh S sử dụng tài khoản Facebook mang tên “Nguyên Thanh” bình luận vào bài viết trên với nội dung “A ở với tôi nek”. Sau đó, S và L1 đã kết bạn và nhắn tin với nhau thông qua ứng dụng Messenger. Quá trình nhắn tin với nhau, S nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt xe mô tô của các cửa hàng cho thuê xe trên địa bàn thành phố Đ sau đó mang về thành phố Hồ Chí Minh cầm cố lấy tiền tiêu xài nên nhắn tin rủ L1 cùng nhau thực hiện thì L1 đồng ý.

Khoảng 23 giờ 00 ngày 21/10/2024, S và L1 đi xe khách của nhà xe P1 từ thành phố B, tỉnh Đồng Nai đến thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng 05 giờ 00 ngày 22/10/2024, S cùng L1 lên tới thành phố Đ và thuê phòng nghỉ tại khách sạn A ở số A B, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Đến 08 giờ 00 cùng ngày, S và L1 lên mạng xã hội Facebook tìm thấy cửa hàng của chị Huỳnh Thị Kim H1 ở số I P, Phường A, thành phố Đ có cho khách du lịch thuê xe mô tô nên S và L1 thống nhất sử dụng căn cước công dân của L1 để thuê xe của chị H1 rồi chiếm đoạt. Sau đó, S sử dụng điện thoại di động có số 0941.877.xxx gọi cho chị H1 hỏi thuê 02 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Airblade 160cc trong thời hạn 03 ngày và yêu cầu chị H1 mang đến khách sạn A để giao cho S thì chị H1 đồng ý.

Thời điểm này tại cửa hàng của chị H1 không còn xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade nên chị H1 đã nói với chồng là anh Nguyễn Thanh P (sinh năm: 1979, nơi cư trú: 9 P, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng) và em chồng là anh Nguyễn Văn N (sinh năm: 1984, nơi cư trú: F H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng) mang 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu xanh đen, biển số: 49AA-070.77 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu xanh đen, biển số 49AA-070.43 đến khách sạn A để giao cho S. Khi đến nơi, anh P đứng ở ngoài, còn anh N đi vào trong khách sạn gặp L1 thì L1 đã nhận 02 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario nhưng yêu cầu anh N đến trưa phải đổi lại 02 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade 160cc cho L1 (do giá trị của xe Honda Airblade 160cc cao hơn xe Honda Vario 125). Sau đó, L1 đưa căn cước công dân số [...] mang tên Trần Thanh L1 cho anh N để làm tin rồi cả hai thống nhất thời gian thuê xe là 03 ngày với giá 100.000đ/1 xe/1 ngày. Sau khi nhận 02 xe mô tô Honda Vario 125 thì L1 và S đợi đến khoảng 15 giờ 00 cùng ngày nhưng không thấy anh N quay lại để đổi xe Honda Airblade 160cc nên cả hai trả phòng khách sạn rồi S điều khiển xe mô tô biển số 49AA-070.43 còn L1 điều khiển xe mô tô biển số 49AA-070.77 chạy về thành phố Hồ Chí Minh để bán lấy tiền tiêu xài. Khi cả hai di chuyển đến địa phận xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai thì bị Cơ quan Công an phát hiện và bắt giữ cùng tang vật (BL: 48-50; 56-60; 86-104; 110-125; 164-165).

Bị hại: Chị Huỳnh Thị Kim H1, sinh năm 1981, nơi cư trú: 9 P, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng bị chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu xanh đen, biển số: 49AA-070.43 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu xanh đen, biển số: 49AA-070.77. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 185/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: Giá trị tài sản của xe mô tô biển số: 49AA-070.77 là 35.000.000 đồng, xe mô tô biển số: 49AA-070.43 là 35.000.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 70.000.000 đồng. Ngày 31/10/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 02 xe mô tô trên cho chị H1, chị H1 đã nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường gì khác, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo (BL: 57-58; 69-70; 80-81; 159-161).

Tại Bản kết luận giám định số 1251/KL-KTHS ngày 02/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận Căn cước, số định danh cá nhân: 080094012626, đề ngày 26/7/2024; Họ, chữ đệm và tên khai sinh: Trần Thanh L1; Năm sinh: 1994 là thật (BL: 76).

Tại bản Cáo trạng số 83/CT-VKSÐL-LĐ ngày 11/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh S và Trần Thanh L1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay,

Các bị cáo Nguyễn Thanh S, Trần Thanh L1 khai nhận hành vi đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố, các bị cáo không thắc mắc khiếu nại gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt vẫn giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh S, Trần Thanh L1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S từ 04 đến 05 năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Trần Thanh L1 từ 04 đến 05 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra để xem xét

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và vô cùng ăn năn, hối hận đối với hành vi phạm tội do mình thực hiện, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và người bị hại đều không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại chị Huỳnh Thị Kim H1 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét lời trình bày của chị H1 trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định.

[3] Về căn cứ kết tội: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và cách thức thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 08 giờ 00 ngày 22/10/2024, tại khách sạn A địa chỉ: số A B, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Thanh S và Trần Thanh L1 đã sử dụng căn cước công dân của L1 rồi liên hệ với chị Huỳnh Thị Kim H1 thuê 02 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu xanh đen, biển số: 49AA-070.43 và biển số: 49AA-070.77 sau đó điều khiển xe về thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài. Khi cả hai đang điều khiển 02 xe mô tô trên đến địa phận xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai thì bị Cơ quan Công an phát hiện và bắt giữ cùng tang vật. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 185/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: Tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt được là 70.000.000 đồng. Do đó, HĐXX xét thấy có đủ căn cứ tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh S, Trần Thanh L1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[4] Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi của các bị cáo thì thấy rằng: Các bị cáo là người có sức khỏe nhưng lười lao động để kiếm tiền mà dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, lỗi của các bị cáo là cố ý. Hành vi của các bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội và gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và làm gương để răn đe, phòng ngừa chung, đáp ứng nhu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.

[5] Đánh giá vai trò, nhân thân và áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng chỉ giản đơn. Các bị cáo cùng nhau thống nhất ý chí sẽ lên Đ thuê xe máy và tìm cách chiếm đoạt tài sản. Trong đó, vai trò của bị cáo S là người khởi sướng, rủ rê và nhắn tin cho L1 cùng tham gia. Đồng thời, bị cáo cũng là người chủ động liên hệ với bị hại để hỏi về giá tiền thuê xe cũng như đặt vấn đề sẽ thuê xe máy. Đối với bị cáo L1 là người đã sử dụng căn cước công dân của mình để đặt làm tin cho bị hại khi thuê xe, hỗ trợ và cùng với S trong việc tìm kiếm các cơ sở kinh doanh cho thuê xe. Trực tiếp nhận xe từ phía bị hại và cùng S chạy 02 chiếc xe đã chiếm đoạt được về Thành phố Hồ Chí Minh để bán lấy tiền tiêu xài. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo đều là những người thực hành tích cực và vai trò là ngang nhau trong vụ án này.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Huỳnh Thị Kim H1 xác nhận đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với các vật chứng là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội gồm 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen, đã hư hỏng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S, màu xám, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, dạng phím bấm, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Trần Thanh L1 01 Căn cước công dân số [...]

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh S, Trần Thanh L1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/10/2024.

2.2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thanh L1 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/10/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen, hư hỏng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S, màu xám, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, dạng phím bấm, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Trần Thanh L1: 01 Căn cước công dân số [...] tên Trần Thanh L1.

(Tất cả vật chứng có đặc điểm theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh S, Trần Thanh L1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố Đà Lạt;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - CSĐT Công an thành phố Đà Lạt;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - Chi cục THADS thành phố Đà Lạt;
  • - Bị cáo (để thi hành);
  • - Bị hại, người có QLNVLQ;
  • - Sở tư pháp Lâm Đồng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Án văn;
  • - Hồ sơ THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Vũ Quang Huy

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Quang Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2025/HS-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 76/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Sơn phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger