| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Bản án số: 76/2025/HS-PT | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| Ngày: 28/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Phương.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thuỷ.
Bà Hoàng Thị Nguyệt.
- Thư ký phiên toà: Ông Dương Xuân Tú – Thư ký Toà án.
- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thu H - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 97/2025/TLPT-HS ngày 16 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 12/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 13 tháng 5 năm 1989; tại tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; số CCCD: [...]; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn S; con bà: Trịnh Thị H1 (đã chết); có vợ là Lê Thị H2 và có 03 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 18/02/2008, bị Công an huyện N, tỉnh Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “đốt pháo nổ trái phép”; bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/5/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Anh Lê Thanh H3, sinh năm: 1990.
Nơi cư trú: Số A N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lê Thị H2, sinh năm: 1991.
Nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng:
- Anh Lê Thế H4, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Khu phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Phạm Thanh T1, sinh năm 1990. HKTT: Khu phố L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Vũ Văn C, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Dương Văn G, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Phạm Thúc L, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Lê Viết L1,; sinh năm 1971. Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
+ Điều tra viên: Lê Văn T2.
Nơi cư trú: Công an xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thực hiện Kế hoạch số 227/KH-CAT-PC08 ngày 19/5/2023 của Giám đốc Công an tỉnh T và Kế hoạch công tác tuần số 24/2023/CSGT ngày 12/6/2023 của Đội Cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện N, tỉnh Thanh Hoá. Tổ tuần tra Cảnh sát giao thông gồm có 04 thành viên do anh Lê Thanh H3 - Cán bộ Phòng C3 Công an tỉnh T làm Tổ trưởng đứng ở vị trí đầu tiên, tiếp đến là anh Lê Thế H4 - Cán bộ Công an xã N, huyện N (tăng cường) đứng ở vị trí số 02, còn lại anh Phạm Thanh T1 và anh Vũ Văn C - Cán bộ Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện N đứng ở vị trí số 03 và số 04 đang làm nhiệm vụ trên tuyến đường Lê Lộ qua trụ sở của lực lượng Cảnh sát phòng cháy thuộc Khu phố C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Sáng ngày 17/6/2023, Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 trú tại thôn M, xã N, huyện N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36X1-6647 đi từ nhà đến xã M, huyện N để lấy cây cảnh. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày khi T đi theo đường L qua trụ sở của lực lượng Cảnh sát phòng cháy thuộc Khu phố C, thị trấn N, huyện N (theo hướng đi từ thị trấn N đi đến xã M) khoảng 50 - 70m thì phát hiện thấy Tổ Cảnh sát giao thông nói trên đang làm nhiệm vụ. Lúc này T dừng xe lại rồi hỏi một người phụ nữ (không rõ tên tuổi, địa chỉ, khoảng 30 tuổi) là “đội có bắt xe máy không”, thì người phụ nữ trả lời là “không biết”. Sau đó T quay sang hỏi anh Phạm Thúc L (sinh năm 1977 trú tại Khu phố C, thị trấn N, huyện N) là “Bên trên đội này còn đội nào đón không” anh L chưa kịp trả lời thì người phụ nữ khi nãy trả lời T nối tiếp là “không đâu”. Sau khi hỏi xong, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36X1-6647 tăng ga đi thẳng hướng về phía Tổ Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ. Lúc này anh Lê Thanh H3 ở vị trí trên cùng của T3 phát hiện T điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm theo quy định đang đi đến, anh H3 đã thổi còi và ra hiệu lệnh dừng xe đối với T nhưng T không chấp hành hiệu lệnh mà tiếp tục tăng tốc độ xe mô tô từ 40 km/h lên đến khoảng 60 km/h lao lên với mục đích vượt qua Tổ Cảnh sát giao thông. Do T điều khiển xe phóng nhanh và ở cự ly, khoảng cách gần nên xe mô tô của T đã đâm va vào người anh H3.
Hậu quả: sau va chạm anh H3 ngã ngồi xuống đường, vùng mắt phải bị thương cháy máu. T cùng xe mô tô ngã trượt ra đường rồi bất tỉnh. Sau đó anh H3 và T được đưa đến Bệnh viện Đ để cấp cứu điều trị.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Quá trình tiến hành khám nghiệm hiện trường ghi nhận:
- Hiện trường nơi xảy ra vụ án là đoạn đường cua bên phải và lên dốc theo hướng thị trấn N đi xã M, lòng đường được trải thảm nhựa có chiều rộng 3,61m, lề đường bên trái và bên phải đều tiếp giáp với phần đất lưu không; Chiều hướng khám nghiệm hiện trường theo chiều từ thị trấn N đi xã M; Mép đường được lấy làm chuẩn là mép đường bên trái theo hướng chuẩn được ký hiệu là (A) trên sơ đồ hiện trường; Điểm mốc được lấy trong hiện trường là cột điện bê tông ký hiệu 3.13 TBA NGỌC KHÊ 6, ngoài phần đất lưu không bên phải đường theo hướng chuẩn.
- Hiện trường cụ thể ghi nhận:
- + Số (1) là vết cà trượt không liên tục kích thước (13,21 x 0,01) m tại lòng đường nhựa, chiều hướng vết theo hướng chuẩn, cuối vết kết thúc tại vị trí giá để chân người điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36X1-6647 bên phải; Khoảng cách từ vị trí điểm mốc cố định đến đầu vết cà trượt không liên tục số (1) là 20m; Khoảng cách từ vị trí đầu vết cà trượt không liên tục số (1) đến A là 2,45m.
- + Số (2) là vết cà trượt không liên tục kích thước (10,6 x 0,01) m tại lòng đường nhựa, chiều hướng vết theo hướng chuẩn; Khoảng cách từ đầu vết cà trượt không liên tục số (1) đến đầu vết cà trượt không liên tục số (2) là 2,27m; Khoảng cách từ đầu vết cà trượt không liên tục số (2) đến (A) là 2,83m, từ cuối vết cà trượt không liên tục số (2) đến (A) là 0,93m.
- + Số (3) là xe mô tô biển kiểm soát 36X1-6647 nằm ngã bên phải tại đường nhựa, đầu xe hướng lề đường bên trái, đuôi xe quay vào lòng đường; Khoảng cách từ cuối vết số (2) đến trục trước xe mô tô số (3) là 0,99m; Khoảng cách từ trục trước xe mô tô số (3) đến A là 0,89m; Khoảng cách từ trục sau xe mô tô số (3) đến (A) là 1,84m.
Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 17/6/2023 đối với anh Lê Thanh H3 phát hiện những dấu vết trên thân thể sau:
- Vùng trán ngang cung mày phải có vết thương rách da, sâu sát xương bờ nham nhở, chảy máu, kích thước 5cm x 0,5cm.
- Hố mắt phải sưng nề bầm tím, tụ máu.
Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 17/6/2023 đối với bị cáo phát hiện những dấu vết trên thân thể sau:
- Vùng trán trái có vết thương rách da, kích thước 2,5cm x 0,5cm, bờ nham nhở, sâu sát xương, chảy máu.
- Hố mắt trái sưng nề bầm tím, tụ máu.
- Gối phải có vết thương xây xước da, kích thước 3cm x 2cm.
- Ngón I bàn chân phải có vết thương xây xước da, kích thước 1cm x 0,5cm.
- Vùng đỉnh đầu có vết thương rách da, kích thước 2,5cm x 0,5cm, bờ nham nhở, chảy máu.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1190/KLTTCT-PYTH ngày 16/8/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh T kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thanh H3 tại thời điểm giám định là: 25% (hai mươi lăm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1313/KLTTCT-PYTH ngày 22/8/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh T kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định là: 61% (sáu mươi mốt phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Tại Kết luận giám định số 2413/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu máu của Nguyễn Văn T, sinh năm: 1989 ở thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa niêm phong gửi giám định không có cồn.
Tại Kết luận giám định hoá pháp số 843/PY-XNĐH ngày 03/7/2023 của V kết luận: Không tìm thấy các chất ma tuý Morphin, 6MAM, H5, C1, C2, A, M, MDA. MDMA, MDEA, Ketamin, LSD, THC (cần sa) trong mẫu máu của Nguyễn Văn T.
Tại Kết luận giám định số 2588/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- Không phát hiện thấy va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 36X1-6647 với phương tiện khác.
- Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 36X1-6647 với anh Lê Thanh H3. Dấu vết tại mặt trước ốp nhựa bên phải đầu xe đến mặt trước tay phanh và ốp cao su tay nắm bên phải xe mô tô biển kiểm soát 36X1-6647 phù hợp do va chạm với chất liệu vải sợi tạo nên.
- Tại thời điểm xảy ra va chạm xe mô tô biển kiểm soát 36X1-6647 có hướng di chuyển từ thị trấn N đi xã M”.
Tại Kết luận giám định số 2825/KL-KTHS ngày 31/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 (Một) tệp video của 01 (Một) thẻ nhớ gửi giám định.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường.
Tại phiên toà sơ thẩm: Bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo trình bày: Ngày 17/6/2023, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36X1-6647 đi từ nhà đến xã M, huyện N để lấy cây cảnh, đi theo đường L qua trụ sở của lực lượng Cảnh sát phòng cháy thuộc Khu phố C, thị trấn N, huyện N (theo hướng đi từ thị trấn N đi đến xã M) thì phát hiện thấy 02 đồng chí Cảnh sát giao thông đứng trên đầu dốc nên bị cáo dừng xe lại rồi hỏi người dân xem Cảnh sát giao thông có bắt xe máy hay không vì bị cáo không đội mũ bảo hiểm. Lúc đó có một người phụ nữ đi qua, bị cáo hỏi “Cảnh sát giao thông có bắt xe máy không”, thì người phụ nữ trả lời là “không biết”, sau đó bị cáo hỏi một người đàn ông “bên trên còn chặng nào nữa không” thì người phụ nữ khi nãy trả lời nối tiếp là “không”. Bị cáo điều khiển xe mô tô đi lên, đi qua 02 đồng chí Cảnh sát giao thông thì không thấy ra tín hiệu dừng xe nên bị cáo tăng ga từ 40km/h lên đến khoảng 60km/h đi tiếp, bị cáo nhìn quay lại xem đồng chí Cảnh sát giao thông có ra tín hiệu gì không, khi quay lại thì anh H3 vướng vào tay bị cáo làm bị cáo bị ngã xe.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 12/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá đã quyết định:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm k khoản 1 Điều 134), khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 45 (bốn mươi lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày đi thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo với nội dung: đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Văn T công nhận hành vi phạm tội như quyết định của bản án sơ thẩm là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm: giảm hình phạt cho bị cáo 09 tháng tù và cho bị cáo được hưởng án treo.
Về án phí: bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T nộp trong thời hạn luật định theo Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- [2]. Xét nội dung kháng cáo:
- [2. 1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 17/6/2023, trên đường Đ thuộc Khu phố C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36X1-6647 đi hướng thị trấn N đi đến xã M không đội mũ bảo hiểm theo quy định, phát hiện phía trước có Tổ công tác Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ, bị cáo dừng lại hỏi người đi đường, sau khi thấy có thể vượt qua tổ công tác thì bị cáo tiếp tục điều khiển xe mô tô. Thấy bị cáo đang đi đến, anh Lê Thanh H3 ra hiệu lệnh dừng xe, tuy nhiên bị cáo không chấp hành mà điều khiển xe mô tô tăng tốc độ từ 40 km/h lên đến khoảng 60 km/h lao lên với mục đích vượt qua Tổ Cảnh sát giao thông, do bị cáo điều khiển xe phóng nhanh và ở cự ly, khoảng cách gần nên xe mô tô của bị cáo đã đâm va vào người anh Lê Thanh H3 làm anh H3 bị tổn thương cơ thể 25% (hai mươi lăm phần trăm). Tại thời điểm xảy ra vụ việc, anh H3 là người đang thi hành công vụ là thuộc trường hợp quy định tại điểm k khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự
Với hành vi nêu trên, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [2. 2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo:
Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T: Bố đẻ bị cáo là người có công được Nhà nước tặng thưởng “Huân chương chiến công hạng ba”, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 45 tháng tù về tội “Cố ý gây tương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới: bị cáo có tham gia ủng hộ quỹ chăm sóc người cao tuổi tại địa phương, bị hại có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự, mặc dù nhân thân của bị cáo năm 2008, bị Công an huyện N, tỉnh Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “đốt pháo nổ trái phép”, tuy nhiên đến nay thời gian bị xử phạt vi phạm hành chính đã hơn 17 năm. Do đó có cơ sở để chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương, C4, giáo dục trong thời gian thử thách như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tại phiên toà, vẫn đảm bảo khả năng tự cải tạo của các bị cáo và phù hợp với hướng dẫn quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.
- [2. 1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
- [3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [4]. Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
VÌ CÁC LẼ TRÊN,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T.
- Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 12/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 36 (ba sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và Công an xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Thu Phương |
Bản án số 76/2025/HS-PT ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 76/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Trí kháng cáo
