|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2025/HS-PT Ngày: 18-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Như Hiển.
Bà Nguyễn Thị Hương Giang.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm H
- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 62/2005/TLPT-HS ngày 24/4/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 11/3/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1981; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện Y (nay là tổ dân phố C, phường N, thành phố B), tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Nhân viên an ninh công ty TNHH F; Trình độ học vấn phổ thông: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H1; vợ: Dương Thị T1 và 03 con; con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 202; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị cáo khác; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không liên quan đến kháng cáo, không kháng cáo nên Tòa án phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH F (gọi tắt là Công ty F) thuộc Khu Công nghiệp V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực đầu tư phát triển hạ tầng Khu Công nghiệp. Hiện tại Công ty F đang thực hiện khai thác dự án Khu Công nghiệp V và Nhà ở xã H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Để đảm bảo việc quản lý xây dựng các công trình của dự án, Công ty F được cơ cấu tổ chức chia thành 09 Phòng chức năng với các nhiệm vụ khác nhau. Phòng trị an (Phòng an ninh) của Công ty có chức năng nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự trong phạm vi Khu Công nghiệp V, khu nhà ở xã H và quản lý giám sát lực lượng bảo vệ của Công ty TNHH D (Công ty D là đơn vị cung cấp nhân viên bảo vệ cho Công ty F theo hợp đồng đã ký kết). Về mặt nhân sự, Phòng trị an của Công ty F có 04 cán bộ gồm anh Lê Đức T2- sinh năm 1984, trú tại thôn H, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang là Phó Trưởng phòng kiêm chủ quản phụ trách phòng; Nguyễn Văn T- sinh năm 1981, trú tại thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Hoàng Quang H2- sinh năm 1982, trú tại thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Tiệp làm việc từ ngày 04/7/2020, H2 làm việc từ ngày 21/3/2024) và anh Nguyễn Thành T3- sinh năm 1989, trú tại số nhà D, đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Khi làm việc tại Phòng trị an, T và H2 được giao nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh, an toàn trong phạm vi vành đai, đường giao thông Khu Công nghiệp V, trong đó có nhiệm vụ xử lý, đẩy đuổi các đối tượng bán hàng rong trong phạm vi nội bộ Khu Công nghiệp V. Tuy nhiên quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao, Nguyễn Văn T và Hoàng Quang H2 đã tự ý thỏa thuận, thống nhất với một số người bán hàng rong trong Khu Công nghiệp V về việc những người này sẽ đưa cho T và H2 một khoản tiền nhất định để T, H2 không thực hiện nhiệm vụ đẩy, đuổi những người bán hàng rong này và cho họ tự do bán hàng. Việc nhận tiền của T và H2 diễn ra độc lập, không có bàn bạc, thống nhất với nhau, toàn bộ được thực hiện bằng hình thức chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng.
Đối với Nguyễn Văn T đã sử dụng số tài khoản 108871965921 Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 (V1) mang tên Nguyễn Văn T để nhận tiền hối lộ từ chị Phùn Thị M- sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố B, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; chị Nguyễn Thị C- sinh năm 1973, trú taị thôn C, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; chị Lê Thị P- sinh năm 1982, trú taị thôn C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; anh Lê Hồng H3- sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; chị Nguyễn Thị N1- sinh năm 1978, trú tại tổ dân phố C,
2
phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang chuyển đến với tổng số tiền 63.500.000 đồng, trong đó có 09 lần Tiệp nhận số tiền 3.000.000 đồng, cụ thể:
T nhận tiền từ số tài khoản 0731000788306 Ngân hàng V1 mang tên chị Phùn Thị M 10 lần chuyển tiền vào các ngày 15/10/2023, 16/11/2023, 16/12/2023, 15/01/2024, 16/02/2024, 15/3/2024, 15/4/2024, 16/5/2024, 16/8/2024 mỗi lần chị M chuyển 1.500.000 đồng; ngày 20/7/2024 chuyển 1.000.000 đồng. Tổng số tiền chị M chuyển cho T là 14.500.000 đồng.
T nhận tiền từ số tài khoản 1041546603 Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 (V2) mang tên chị Nguyễn Thị C 07 lần chuyển tiền vào các ngày 12/11/2023, 18/12/2023, 18/01/2024, 08/02/2024, 09/3/2024, 08/4/2024, 28/5/2024, mỗi lần chuyển 1.000.000 đồng. Tổng số tiền chị C đã chuyển cho T là 7.000.000 đồng.
T nhận tiền từ số tài khoản 1031667203 Ngân hàng V2 mang tên chị Lê Thị P 10 lần chuyển tiền vào các ngày 21/11/2023, 18/12/2023, 17/01/2024, 17/02/2024, 21/3/2024, 16/4/2024, 17/5/2024, 17/6/2024, 16/7/2024, 16/8/2024, mỗi lần chuyển 1.000.000 đồng. Tổng số tiền chị P đã chuyển cho T là 10.000.000 đồng.
Tiệp nhận tiền của anh Lê Hồng H3 09 lần chuyển tiền cụ thể: Anh H3 đã sử dụng số tài khoản 0731000826894 Ngân hàng V2 mang tên chị Hoàng Thị H4- sinh năm 1990 (vợ anh H3) để chuyển tiền cho T 09 lần trong các ngày 15/10/2023, 15/11/2023, 15/12/2023, 15/01/2024, 16/02/2024, 15/3/2024, 15/4/2024, 15/5/2024, 16/6/2024, mỗi lần chuyển 3.000.000 đồng. Tổng số tiền anh H3 đã chuyển cho T là 27.000.000 đồng.
T nhận tiền của chị Nguyễn Thị N1 05 lần chuyển tiền cụ thể: Chị N1 nhờ ông Nguyễn Văn Y- sinh năm 1965, trú tại tổ D, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang chuyển tiền cho T hộ chị 04 lần, Ông Y sử dụng số tài khoản 1029661734 Ngân hàng V2 tên Nguyễn Văn Y chuyển tiền hộ chị N1 03 lần các ngày 16/4/2024, 16/5/2024, 18/7/2024, ông Y sử dụng số tài khoản 2502205419806 Ngân hàng N3 (tên Nguyễn Văn Y chuyển 01 lần vào ngày 16/8/2024, mỗi lần chuyển 1.000.000 đồng. Ngoài ra chị N1 còn nhờ anh Lê Văn V- sinh năm 1998, trú tại thôn C, T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang sử dụng số tài khoản 5790123393979 Ngân hàng thương mại cổ phần Q (M2) tên Lê Văn V chuyển tiền 01 lần vào ngày 16/6/2024 với số tiền 1.000.000 đồng. Tổng số tiền chị N1 đã chuyển cho T là 5.000.000 đồng.
Đối với Hoàng Quang H2 sử dụng số tài khoản 256758888 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á (Ngân hàng A)tên Hoàng Quang H2 nhận tiền hối lộ của chị Phùn Thị M chuyển đến từ số tài khoản 0731000788306 Ngân hàng V1 mang
3
tên chị Phùn Thị M 04 lần, trong đó ngày 16/02/2024 chị M chuyển cho H2 2.000.000 đồng thì H2 trả lại chị 500.000 đồng tiền mặt; ngày 16/3/2024 chị M chuyển cho H2 2.000.000 đồng thì H2 trả lại 500.000 đồng tiền mặt do chị M nhờ chuyển tiền tài khoản để lấy tiền mặt; ngày 20/7/2024 chị M chuyển 1.000.000 đồng và 16/8/2024 chị M chuyển 1.500.000 đồng. Tổng số tiền chị M chuyển cho H2 là 5.500.000 đồng (trong các lần nhận tiền có 2 lần nhận tiền ngày 16/02/2024, 16/3/2024, H2 vẫn đang làm bảo vệ của Công ty D có nhiệm vụ phối hợp cùng Phòng trị an của Công ty F đi đẩy, đuổi người bán hàng rong; 02 lần nhận tiền ngày 20/7/2024 và 16/8/2024 là khi H2 đang làm việc tại Phòng trị an của Công ty F).
Ngày 22/8/2024, chị Phùn Thị M, chị Nguyễn Thị C, chị Lê Thị P, anh Lê Hồng H3 và chị Nguyễn Thị N1 đến Đồn Công an Q1 tố giác việc Nguyễn Văn T và Hoàng Quang H2 là nhân viên Phòng trị an- Công ty F đã có hành vi nhận tiền hối lộ.
Nhận thức thấy hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật, ngày 22/8/2024, Nguyễn Văn T và Hoàng Quang H2 đã đến Đồn Công an Q1 để đầu thú về hành vi phạm tội. Tiệp giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu GalaxyZ Fold 5; Hưng giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S. Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra 01 điện thoại di động nhãn hiệu GalaxyZ Fold 5 của Nguyễn Văn T. Kết quả kiểm tra tại mục tin nhắn zalo có nội dung tin nhắn của T với các tài khoản Zalo tên “N4”, “Chiều Hàng Rong” liên quan đến hành vi phạm tội; kiểm tra 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S của Hoàng Quang H2 không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội.
Ngày 23/8/2024, Đồn Công an Q1 đã chuyển hồ tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã V để giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan điều tra tiến hành tra cứu lịch sử giao dịch chuyển khoản từ số tài khoản 256758888 Ngân hàng ACB mang tên Hoàng Quang H2 thời điểm từ ngày 01/01/2024 đến 10/9/2024; số tài khoản 108871965921 Ngân hàng V1 mang tên Nguyễn Văn T thời điểm từ ngày 01/06/2022 đến 05/10/2024. Kết quả kiểm tra có các nội dung về số tiền và thời gian chuyển khoản giao dịch đến các số tài khoản trên của Hoàng Quang H2, Nguyễn Văn T phù hợp lời khai nhận tội của các bị cáo, người tố giác.
Ngày 30/8/2024, Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với Ban quản lý các Khu Công nghiệp T. Kết quả làm việc ông Vũ Trí T4- Chánh văn phòng Ban quản lý các Khu Công nghiệp T cung cấp thông tin Công ty F là doanh nghiệp đầu tư,
4
xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu Công nghiệp V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; quá trình hoạt động Công ty F có trách nhiệm đảm bảo an ninh trật tự theo quy định pháp luật, thuộc phạm vi quản lý tại Khu Công nghiệp V. Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với Công ty F, ông Wang C1-Chun là Giám đốc đại diện theo ủy quyền của Công ty F cung cấp thông tin: Phòng trị an của Công ty F có chức năng nhiệm vụ chung là đảm bảo an ninh trật tự của Khu Công nghiệp V, khu nhà ở xã H; quản lý giám sát lực lượng bảo vệ của Công ty D làm việc tại các chốt và lưu động trong phạm vi đất do Công ty quản lý, vận hành. Phòng trị an có trách nhiệm trong việc xử lý, đẩy đuổi các đối tượng bán hàng rong bên trong Khu Công nghiệp V.
Ngày 27/8/2024 và 28/8/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho những người tố giác nhận dạng qua ảnh, kết quả chị M, chị C, chị P, chị N1, anh H3 nhận dạng được chính xác Nguyễn Văn T là người đã có hành vi nhận tiền hối lộ. Ngoài ra chị M cũng nhận dạng được chính xác Hoàng Quang H2 người đã có hành vi nhận tiền hối lộ.
Ngày 24/9/2024 và ngày 02/12/2024, chị Lù Thị L- sinh năm 1991, trú tại thôn C, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (bạn của bị cáo T) đã nộp hộ Tiệp số tiền 63.500.000 đồng vào Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã V để khắc phục hậu quả cho bị cáo T. Ngày 11/9/2024, Hoàng Quang H2 đã tự nguyện nộp số tiền 5.500.000 đồng vào Cơ quan thi hành án dân sự thị xã V để khắc phục hậu quả.
Bản Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 09/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố Nguyễn Văn Tiệp và Hoàng Quang Hưng ra trước Toà án nhân dân thị xã Việt Yên để xét xử về tội “Nhận hối lộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 354 Bộ luật hình sự. Và tại phiên tòa sơ thẩm, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn T theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 354 Bộ luật hình sự. Bị cáo T không có ý kiến gì về nội dung truy tố bổ sung của Viện kiểm sát.
Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 11/3/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
Căn cứ điểm đ, g khoản 2, 5 Điều 354; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Nhận hối lộ”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 23/8/2024.
5
Cấm đảm nhiệm chức vụ “Nhân viên trị an” tại các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Hoàng Quang H2, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/3/2025, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Văn T trình bày: Bị cáo thấy án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Do thiếu hiểu biết pháp luật nên đã vi phạm, rất hối hận về hành vi phạm tội của mình. Tại cấp phúc thẩm bị cáo có nộp các tình tiết giảm nhẹ mới là các bằng khen và giấy khen của em trai bị cáo. Bản sao Bằng khen của Ban chấp hành Hội nông dân tỉnh B tặng ông Nguyễn Văn N; bản sao Kỷ niệm chương của Ban tặng ông Nguyễn Văn N (ông N là bố đẻ bị cáo). Hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, nuôi con nhỏ ăn học. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện nuôi dưỡng các con trong tuổi ăn, tuổi học và phụng dưỡng cha mẹ già.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án sơ thẩm xử bị cáo về tội “Nhận hối lộ” là đúng người, đúng tội và không oan. Đề nghị HĐXX:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa bản án sơ thẩm số 35/2025/HSST ngày 11/3/2023 của TAND thị xã Việt Yên.
Căn cứ điểm đ, g khoản 2, 5 Điều 354; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Nhận hối lộ”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 23/8/2024.
Cấm đảm nhiệm chức vụ “Nhân viên trị an” tại các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước trong thời hạn 02 (Hai) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ nhất hình phạt cho bị cáo.
6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên xác định là đơn kháng cáo hợp pháp, được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ xác định: Nguyễn Văn T, Hoàng Quang H2 là nhân viên của Phòng trị an- Công ty F thuộc Khu Công nghiệp V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Tiệp và H2 có nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh an toàn trong phạm vi vành đai, đường giao thông Khu Công nghiệp V, trong đó có nhiệm vụ xử lý, đẩy đuổi các đối tượng bán hàng rong trong phạm vi nội bộ Khu Công nghiệp V. Quá trình thực hiện nhiệm vụ T, H2 đã nhận tiền hối lộ của những người bán hàng rong để tạo điều kiện cho việc bán hàng rong của những người này. Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2023 đến tháng 8/2024, Nguyễn Văn T sử dụng số tài khoản 108871965921 Ngân hàng V1 mang tên Nguyễn Văn T nhận tổng số tiền hối lộ là 63.500.000 đồng (trong đó T nhận của chị Phùn Thị M 14.500.000 đồng qua 10 lần chuyển tiền, nhận của chị Nguyễn Thị C 7.000.000 đồng qua 07 lần chuyển tiền, nhận của chị Lê Thị P 10.000.000 đồng qua 10 lần chuyển tiền, nhận của chị Nguyễn Thị N1 5.000.000 đồng qua 05 lần chuyển tiền và nhận của anh Lê Hồng H3 27.000.000 đồng qua 09 lần chuyển tiền mỗi lần đều nhận 3.000.000 đồng), trước khi nhận hối lộ bị cáo đã có những lời nói đòi hỏi, gợi ý nhằm mục đích để người đưa hối lộ phải đưa tiền cho bị cáo. Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2024 đến tháng 8/2024, Hoàng Quang H2 đã sử dụng số tài khoản 256758888 Ngân hàng ACBtên Hoàng Quang H2 để nhận tổng số tiền hối lộ là 5.500.000 đồng của chị Phùn Thị M chuyển đến qua 04 lần, việc chị M chuyển tiền cho H2 là hoàn toàn tự nguyện, H2 không có lời nói đòi hỏi, gợi ý chị M phải đưa tiền hối lộ. Sau khi bị tố giác, T và H2 đã đến Đồn Công an Q1 để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
[3] Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Nhận hối lộ” theo quy định tại điểm đ, g khoản 2 Điều 354 Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo Hoàng
7
Quang H2 đã phạm vào tội “Nhận hối lộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 354 Bộ luật hình sự. Do vậy, Bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử các bị cáo về tội danh và Điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hội đồng xét xử sơ thẩm sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi của bị cáo, đánh giá toàn bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã xử phạt bị cáo T 07 năm 06 tháng tù về tội “Nhận hối lộ” là tương xứng, có căn cứ, không oan đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T thì thấy:
[6] Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú và tích cực tác động đến gia đình, tự nguyện giao nộp số tiền nhận hối lộ để khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Đầu thú” quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới là Bản sao tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở của chính ủy Lữ đoàn 409 đối với thiếu tá Nguyễn Văn T5 năm 2024; Bản sao tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở của chính ủy quân khu A1 đối với đại úy Nguyễn Văn T5 năm 2023; Bản sao tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở của chính ủy quân khu A1 đối với thượng úy Nguyễn Văn T5 năm 2022; Bản sao tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở của chính ủy quân khu A1 đối với thượng úy Nguyễn Văn T5 năm 2021; Bản sao tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở của chính ủy quân khu A1 đối với trung úy Nguyễn Văn T5 năm 2020; Bản sao tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở của chính ủy quân khu A1 đối với trung úy Nguyễn Văn T5 năm 2019; Bản sao bằng khen của tư lệnh quân khu A2 đối với Nguyễn Văn T5 ngày 05/12/2023; Bản sao Bằng khen của Tư lệnh quân khu A2 đối với Thiếu tá Nguyễn Văn T5 ngày 30/8/20234; Bản sao Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Q2 đối với trung úy Nguyễn Văn T5 ngày 30/4/2021; Bản sao Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì, hạng ba đối với trung úy Nguyễn Văn T5 năm 2014, 2021 (Tuyên là em trai bị cáo); Bản
8
sao Bằng khen của Ban chấp hành Hội nông dân tỉnh B tặng ông Nguyễn Văn N ngày 01/10/2020; bản sao Kỷ niệm chương của Ban tặng ông Nguyễn Văn N ngày 16/9/2022; Bản sao Giấy công nhận đạt danh hiệu “ Tuổi cao - Gương sáng xuất sắc” năm 2018 Hội người cao tuổi tỉnh Bắc Giang đối với ông Nguyễn Văn N ngày 30/10/2018; Bản sao Kỷ niệm chương vì sự nghiệp VAC do Chủ tịch Hội L1 tặng ông Nguyễn Văn N ngày 16/9/2016 (ông N là bố đẻ bị cáo). Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm cần xem xét cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bản sao Huy chương kháng chiến hạng nhì của gia đình ông Dương Văn M1 (ông M1 là ông ngoại của vợ bị cáo) do gia đình bị cáo nộp, đây không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
[9] Do được xem xét chấp nhận áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Do đó, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Sửa bản án hình sự của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
[10]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
[11]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HSST ngày 11/3/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm đ, g khoản 2, 5 Điều 354; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) năm tù về tội “Nhận hối lộ”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 23/8/2024.
9
Cấm đảm nhiệm chức vụ “Nhân viên trị an” tại các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hà |
10
Bản án số 76/2025/HS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự phúc thẩm về tội nhận hối lộ
- Số bản án: 76/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Nhận hối lộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 62/2005/TLPT-HS ngày 24/4/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 11/3/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
