TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2025/HS-PT Ngày: 18/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Thanh
Các Thẩm phán: + Ông Huỳnh Trọng Cẩn.
+ Bà Trương Thị Đào Vi .
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Toàn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 42/2025/TLPT-HS ngày 14 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Phan Văn B do có kháng cáo của bị cáo Phan Văn B đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2025/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, thành phố H.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phan Văn B; sinh ngày 18 tháng 01 năm 1992 tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); số CCCD: [...]; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố K, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); chỗ ở hiện nay: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn K, sinh năm 1972 và con bà Phạm Thị B1, sinh năm 1973; có vợ là Lê Thị L, sinh năm 1992; Con: có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không;
Quá trình nhân thân: Sinh ra và lớn lên tại xã H, thị xã H, thành phố H. Đi học đến lớp 10/12 thì nghỉ học, sau đó đi học nghề lái xe múc. Năm 2014 lấy vợ và sinh sống tại thị trấn S, huyện Q. Năm 2021 làm nhà và sinh sống tại thôn T, xã Q, huyện Q, thành phố H cho đến nay.
Ngày 22/3/2024 có hành vi vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng (Quyết định số 0000976/QĐ-XPVPHC ngày 22/3/2024). Đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 27/3/2024.
Bị cáo Phan Văn B bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 6/2022, ông Văn Đức M nhờ anh Trần Đình H giới thiệu để bán thửa đất số 216, tờ bản đồ số 4, địa chỉ thửa đất: Xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) và ông M cung cấp cho anh H hình ảnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 13/6/2022, H giới thiệu thửa đất này cho bị cáo Phan Văn B và anh H có gửi hình ảnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị cáo B. Sau khi nhận được các hình ảnh liên quan thửa đất số 216, tờ bản đồ số 4 của ông M, B liên hệ với Huỳnh Xuân Q đưa ra thông tin gian dối là bị cáo B đã mua thửa đất này để giới thiệu chuyển nhượng lại cho Q.
Sau khi được bị cáo B giới thiệu, ngày 14/6/2022 Q cùng với Trần Văn L1 hẹn gặp bị cáo B và cùng nhau đi xem thực tế thửa đất; anh Q tin tưởng thửa đất này là của B nên đồng ý mua. Ben đã yêu cầu anh Q chuyển tiền đặt cọc nên ngày 15/6/2022, anh Q đã chuyển cho bị cáo B số tiền 40.000.000 đồng (trong đó chuyển khoản qua tài khoản số 63310000306181 của B số tiền 30.000.000 đồng và 10.000.000 đồng tiền mặt) nhưng lúc này giữa B và Q chưa viết hợp đồng đặt cọc.
Sau khi nhận tiền đặt cọc của Q, đến ngày 27/6/2022 bị cáo Phan Văn B sử dụng tài khoản số 63310000306181 chuyển khoản qua số tài khoản 4003205032474 của anh Trần Đình H số tiền 10.000.000 đồng để đặt chỗ trước khi xác lập hợp đồng đặt cọc về việc mua bán thửa đất này. Bị cáo B và anh H thỏa thuận khoảng 07 đến 10 ngày sau thì lập hợp đồng đặt cọc với chủ đất. Sau 07 đến 10 ngày như đã thỏa thuận, thì B không thực hiện các giao dịch với chủ đất Văn Đức M cũng như anh Trần Đình H nên thỏa thuận giữa B và H đã chấm dứt và đồng thời bị cáo B cũng đã biết được thông tin chủ đất không muốn bán thửa đất này nữa; nhưng đến ngày 14/7/2022 B vẫn tiếp tục yêu cầu anh Q chuyển thêm số tiền đặt cọc để làm thủ tục tách thửa và san mặt bằng. Anh Q tin tưởng nên đã chuyển thêm cho bị cáo B số tiền 80.000.000 đồng qua số tài khoản 63310000306181.
Đến ngày 18/7/2022, B và Q lập hợp đồng đặt cọc về việc mua bán thửa đất số 216, tờ bản đồ số 4 của ông Văn Đức M với tổng số tiền đặt cọc là 120.000.000 đồng và hẹn đến ngày 01/12/2022 sẽ tiến hành công chứng và chuyển nhượng thửa đất, nhưng đến ngày 01/12/2022 không thực hiện được theo hợp đồng, bị cáo B và anh Q tiếp tục thỏa thuận đến 01/4/2023 thì bị cáo B sẽ làm thủ tục công chứng, chuyển nhượng thửa đất này cho anh Q nhưng đến ngày 01/4/2023 vẫn không thực hiện được nên bị cáo B và anh Q tiếp tục có thỏa thuận đến ngày 02/6/2023 sẽ làm thủ tục công chứng nhưng vẫn không thực hiện được.
Như vậy, bị cáo Phan Văn B không có xác lập giao dịch gì liên quan đến thửa đất trên với ông M nhưng đã đưa ra lời nói và thông tin gian dối làm cho anh Huỳnh Xuân Q tin tưởng, thực hiện việc đặt cọc mua bán thửa đất trên không phải là của mình với tổng số tiền 120.000.000 đồng và bị cáo đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền này sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân.
Ngoài ra, anh Huỳnh Xuân Q còn tố cáo Phan Văn B chiếm đoạt số tiền 90.000.000 đồng liên quan đến thửa đất số 29 tờ bản đồ số 15, địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã Q, huyện Q do ông Phạm Đức N, trú tại: Thôn T, xã Q, huyện Q là chủ sử dụng. Tuy nhiên, Quá trình điều tra xác định đối với hợp đồng đặt cọc liên quan đến thửa đất số 29 tờ bản đồ số 15, địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã Q, huyện Q do ông Phạm Đức N là chủ sử dụng với số tiền 90.000.000 đồng, xác định đây là quan hệ dân sự liên quan đến hợp đồng đặt cọc giữa anh Huỳnh Xuân Q và Phan Văn B, không có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng chiếm đoạt tài sản.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2025/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, thành phố H, đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phan Văn B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Phan Văn B 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, về án phí, và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 16/03/2025, bị cáo Phan Văn B có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Văn B vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Đảm bảo đúng quy định của pháp luật, đơn kháng cáo của bị cáo là đúng chủ thể, nội dung và thời hạn nên Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý giải quyết và xét xử là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung kháng cáo: Bị cáo Phan Văn B là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Phan Văn B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề với mức hình phạt 06 (sáu) tháng tù là đã xem xét đầy đủ, đúng mức; bị cáo phạm tội hai lần trong đó có 01 lần phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng; ngoài ra sau khi phạm tội bị cáo còn bị công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên; không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo của Tòa án nhân dân tối cao.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới để Hội đồng xét xử xem xét. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn B, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tham gia tranh luận với Kiểm sát viên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Bị cáo Phan Văn B có đơn kháng cáo vào ngày 16/03/2025, trong hạn luật định, hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo, có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 13/6/2022 sau khi được Trần Đình H giới thiệu và chuyển hình ảnh giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất cùng với việc nhờ bán thửa đất số 216, tờ bản đồ số 4, địa chỉ thửa đất: xã Q, huyện Q, thành phố H của ông Văn Đức M, bị cáo Phan Văn B đã liên hệ với bị hại Huỳnh Xuân Q và đưa ra thông tin gian dối là bị cáo đã mua thửa đất này để giới thiệu chuyển nhượng lại cho anh Huỳnh Xuân Q. Vì tin tưởng lời nói và thông tin bị cáo Phan Văn B đưa ra là sự thật nên vào các ngày 15/6/2022 và ngày 14/7/2022 anh Huỳnh Xuân Q đã hai lần chuyển tiền đặt cọc cho bị cáo, với tổng số tiền lần 1 là 40.000.000 đồng, lần 2 là 80.000.000 đồng; tổng cộng: 120.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, bị cáo Phan Văn B nhiều lần hứa hẹn nhưng không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 216, tờ bản đồ số 4, tại xã Q, huyện Q, thành phố H như đã hứa hẹn mà đã dùng số tiền trên sử dụng, tiêu xài cá nhân hết. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 120.000.000 đồng.
Với hành vi trên, bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự; do đó, Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền đã xét xử bị cáo Phan Văn B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174; áp dụng các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự; là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo Phan Văn B là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì để có tiền trả nợ cá nhân nên bị cáo đã cố ý, nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sơ hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật nhằm răn đe bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
- Xét kháng cáo của bị cáo về xin giảm nhẹ hình phạt:
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự; quyết định áp dụng dưới mức thấp nhất khung hình phạt liền kề là đã có xem xét chính sách nhân đạo, khoan hồng, phù hợp với quy định của pháp luật để xử phạt bị cáo 06 tháng tù là tương xứng, không nặng nên không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt đối với nội dung kháng cáo của bị cáo.
- Về kháng cáo xin được hưởng án treo:
Bị cáo phạm tội hai lần, có 01 lần phạm tội thuộc loại tội nghiêm trọng, đã vi phạm điểm b khoản 5 Điều 3 Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo của Tòa án nhân dân tối cao. Không đủ điều kiện để xem xét cho hưởng án treo.
Ngoài ra, ngày 22/3/2024 bị cáo còn có hành vi vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng theo Quyết định số 0000976/QĐ-XPVPHC ngày 22/3/2024.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới để bổ sung, đề nghị xem xét nội dung kháng cáo. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn B, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5]. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuyên xử:
[1]. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn B; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2025/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, thành phố H.
[2]. Về tội danh:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn B, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
[3]. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phan Văn B 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
[4]. Về án phí: Bị cáo Phan Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Thanh |
Bản án số 76/2025/HS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 76/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
