TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2025/HS-PT Ngày: 17/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tân.
Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Minh Phượng
Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Trang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Đức Nhân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2025/TLPT-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Lê Thị N. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 159/2024/HS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Bị cáo có kháng cáo: Lê Thị N; giới tính: nữ; sinh ngày: 03/12/1980 tại: huyện H, thành phố Đà Nẵng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nơi cư trú: khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: buôn bán; cha: Lê Khánh H, sinh năm 1954; mẹ: Phạm Thị X, sinh năm 1956; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; chồng: Nguyễn Hữu B, sinh năm 1962; bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2023, Lê Thị N làm ăn thua lỗ dẫn đến nợ tiền của nhiều người, do không có tiền để trả nợ nên N nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của người khác để có tiền trả nợ. Do có quen biết với bà Trần Thị K (sinh năm 1978, trú Số F P, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam) nên vào ngày 10/7/2023, N sử dụng zalo Lê Thị N, đăng ký bằng số điện thoại 0961.478.xxx nhắn tin qua tài khoản zalo của bà Trần Thị Kim đăng K1 bằng số điện thoại 0905.216.xxx, N nói dối với bà K là cần tiền để đáo hạn ngân hàng cho người khác nên mượn bà K số tiền 200.000.000 đồng và hẹn ngày hôm sau sẽ trả. Do chỗ quen biết nhau và thân thiết nên khi nghe N nói vậy thì bà Kim T là thật và đồng ý. Ngay trong ngày, bà K đã chuyển số tiền 200.000.000 đồng từ số tài khoản số 56210002236144 đứng tên Trần Thị Kim M tại Ngân hàng B1, đến số tài khoản 4200205294314 đứng tên Lê Thị N mở tại Ngân hàng A. Sau đó cùng ngày, N tiếp tục nói dối đề nghị mượn thêm số tiền 150.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng và được bà Kim T thật nên đồng ý. Đến ngày 11/7/2023, bà K tiếp tục chuyển số tiền 150.000.000 đồng từ số tài khoản 0271000170127 đứng tên Trần Thị Kim mở tại Ngân hàng V, đến số tài khoản A nêu trên do Lê Thị N đứng tên.
Ngày 12/7/2023, sau khi N nhận được tổng số tiền 350.000.000 đồng từ bà K, N không sử dụng vào mục đích đáo hạn ngân hàng như đã nói với bà K, mà sử dụng để trả nợ cho bà Dương Thị Kim T1 số tiền 10.500.000 đồng; bà Nguyễn Thị L số tiền 23.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị N1 số tiền 8.500.000 đồng. Ngoài ra, N còn chuyển trả nợ cho một số người khác (không nhớ rõ lai lịch và số tiền trả cụ thể của từng người) với tổng số tiền 8.000.000 đồng. Sau đó, N bỏ nhà đi vào Thành phố Hồ Chí Minh để trốn tránh việc bà K đến nhà đòi tiền. Đồng thời ngày 12/7/2023, N chuyển số tiền 300.000.000 đồng còn lại từ tài khoản ngân hàng A nêu trên đến số tài khoản 060306091789 của N mở tại Ngân hàng Sacombank Thành phố H và N đến quầy giao dịch ngân hàng S tại Thành phố Hồ Chí Minh rút tiền mặt số tiền 300.000.000 đồng để sử dụng trả nợ và tiêu xài cá nhân. Sau khi chiếm đoạt tiền của bà K, N đã bỏ số điện thoại 0961.478.xxx, xóa tài khoản Zalo và cắt mọi liên lạc với bà K.
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 159/2024/HS-ST ngày 25/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lê Thị N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo: Lê Thị N 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 26/9/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Vào ngày 30/12/2024, bị cáo Lê Thị N có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Thị N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời, đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Thị N có đơn kháng cáo xin cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt. Xét việc kháng cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo Lê Thị N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ được chứng minh có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 10 và 11/7/2023, tại phường A, thành phố T, bị cáo Lê Thị N đã đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt của bà Trần Thị Kim S tiền 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng). Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số: 159/2024/HS-ST ngày 25/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã kết án bị cáo Lê Thị N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
[2.2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Thị N thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng đầy đủ tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự và nhân thân để làm căn cứ xử phạt bị cáo Lê Thị N 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ pháp luật và không nặng.
Xét thấy, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt theo như đề nghị của Kiểm sát viên.
[3] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị và Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Lê Thị N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 159/2024/HS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về phần hình phạt;
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 và Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo: Lê Thị N 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 26/9/2024.
2. Bị cáo Lê Thị N phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 17/3/2025).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tân |
Bản án số 76/2025/HS-PT ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 76/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
