Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5- VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 76/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30/9/2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Em.

2. Ông Nguyễn Trí Chấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Thi – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 83/2025/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ H, sinh năm: 1982; địa chỉ: C, ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre – nay là 388, xã P, tỉnh Vĩnh Long.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Duy T, sinh năm: 1982; địa chỉ: địa chỉ: C, ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre – nay là 388, xã P, tỉnh Vĩnh Long.

(Bà H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Ông T vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và các biên bản trong quá trình tố tụng tại tòa án, nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T tự nguyện cưới nhau vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, nhưng vào năm 2020 thì giữa bà và ông T xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính cách không phù hợp. Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông T bà yêu cầu ly hôn với ông T. Khi ly hôn, bà không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.

Về con chung: Có 01 con chung tên là Nguyễn Thị Ánh T1, sinh ngày 05/3/2009, hiện con đang sống cùng ông T, khi ly hôn bà yêu cầu ông T nuôi con, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Duy T mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Nguyễn Duy T đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của ông Nguyễn Duy T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện khu vực 5, tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, các Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật.

Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71; bị đơn thực hiện chưa đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào nội dung trình bày của nguyên đơn theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án thể hiện hôn nhân giữa bà H, ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung giữa vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà H. Về hôn nhân, bà H được ly hôn ông T. Ghi nhận bà H không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: Giao Nguyễn Thị Ánh T1, sinh ngày 05/3/2009, cho ông T nuôi dưỡng, ông T không có ý kiến về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Về tài sản chung: Bà H khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

Về nợ chung: Bà H khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

Án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa bà Trần Thị Mỹ H và ông Nguyễn Duy T là tranh chấp về ly hôn, bị đơn ông T có nơi cư trú tại xã P, tỉnh Vĩnh Long, nên Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Vĩnh Long thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai; bà H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T và bà H.

[2] Về hôn nhân: Bà H và ông T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã P, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 04/7/2007 nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, bà H xác định giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, thường xuyên cự cãi. Bà H và ông T đã sống ly thân từ tháng 9/2024 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng ông T vắng mặt, không tham gia hòa giải, điều đó cho thấy ông T không mong muốn vợ chồng đoàn tụ.

Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng hiện bà H và ông T sống ly thân đã lâu, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, quá trình chung sống hai bên cũng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không được, nay bà H xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T. Từ đó có cơ sở để xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H. Ghi nhận việc bà H không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

[3] Về con chung: Bà H và ông T có 01 con chung là Nguyễn Thị Ánh T1, sinh ngày 05/3/2009. Khi ly hôn, bà H yêu cầu ông T nuôi con, bà không cấp dưỡng. Qúa trình giải quyết vụ án ông T đã được Tòa án thông báo về việc bà H yêu cầu ly hôn và nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con nhưng ông T không có ý kiến và cũng không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với các yêu cầu của bà H, điều đó chứng tỏ anh đã mặc nhiên chấp nhận yêu cầu của bà H. Tại biên bản hỏi ý kiến con trên 07 tuổi cháu Nguyễn Thị Ánh T1 trình bày hiện đang sống cùng với ông T. Khi cha mẹ ly hôn, cháu T1 muốn sống với ông T. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ cho rằng việc giao cháu T1 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là đảm bảo quyền và lợi ích về mọi mặt của các cháu cũng như phù hợp với nguyện vọng của cháu T1.

Từ những phân tích trên, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định về thể chất và tinh thần cũng như yêu cầu nguyện vọng của con chung nên việc giao con chung là Nguyễn Thị Ánh T1 cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Ông T không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

[4] Về tài sản chung: Bà H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

[5] Về nợ chung: Bà H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

[6] Về án phí: Bà H là người khởi kiện yêu cầu ly hôn nên chị phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng).

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Vĩnh Long tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ H được ly hôn với ông Nguyễn Duy T. Ghi nhận việc bà H không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
  2. Về con chung: Nguyễn Thị Ánh T1, sinh ngày 05/3/2009 cho ông Nguyễn Duy T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Sau khi ly hôn, bà H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Ông T được quyền trực tiếp nuôi con không được cản trở bà H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc cấp dưỡng nuôi con

  3. Về tài sản chung: Bà H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
  4. Về nợ chung: Bà H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
  5. Về án phí: Bà Trần Thị Mỹ H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000996 ngày 28/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà H đã nộp xong án phí.

Bà H, ông T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 5, tỉnh Vĩnh Long;
  • - THADS tỉnh Vĩnh Long;
  • - TAND tỉnh Tĩnh Long;
  • - UBND xã Phú Túc (số 21 ngày 04/7/2007 của UBND xã Sơn Hòa);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 76/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H được ly hôn với anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger