TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2025/HNGĐ-ST Ngày 30 tháng 6 năm 2025 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hà Giang;
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Điền;
Ông Nguyễn Xuân Đào.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga – Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2024, Tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2025/TLST- HNGĐ ngày 29/4/2025 Về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 02/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1995;
Nơi cư trú: Khu B, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ;
Nơi làm việc hiện nay: Số C, đường N, quận L, thành phố Đ, Đài Loan. (Có đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1994;
Nơi cư trú: Khu A, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Tuấn A1, sinh năm 1969;
- Bà Trần Thị Kim T, sinh năm 1973;
Đều có địa chỉ: Khu B, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 29/11/2024 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phương trình B:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Ngọc A đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ ngày 10/4/2017. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hoà thuận hạnh phúc. Ngày 04/11/2019, chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Kể từ khi đi xuất khẩu lao động, giữa chị và anh A phát sinh mâu thuẫn do tính cách vợ chồng không hợp nhau và do khoảng cách địa lý khiến cho vợ chồng thiếu sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Hiện nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị xin được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc A.
Về con chung: Chị xác định vợ chồng có một con chung: Cháu Nguyễn Khánh M, sinh ngày 27/10/2017. Hiện cháu M đang ở cùng ông bà ngoại là ông Nguyễn Tuấn A1, sinh năm 1969 và bà Trần Thị Kim T, sinh năm 1973 tại Khu B, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
Sau khi ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc cháu M cho đến khi cháu M thành niên, lao động tự túc được và không yêu cầu anh A1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Trong thời gian chị ở nước ngoài thì đề nghị Tòa án tạm giao cháu M cho ông bà ngoại của cháu là ông A1 và bà T nuôi dưỡng cho đến khi chị về nước đón cháu M.
Trường hợp anh A1 không đồng ý để chị trực tiếp nuôi cháu M và có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu M thì chị đồng ý để anh A1 là người trực tiếp nuôi cháu M sau khi ly hôn cho đến khi cháu M thành niên và lao động tự túc được. Chị tự nguyện cấp dưỡng 2.000.000đ (hai) triệu đồng/tháng để nuôi cháu M.
Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức đóng góp của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Bị đơn anh Nguyễn Ngọc A trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị P kết hôn hợp pháp như chị P trình bày. Năm 2019, chị P đi lao động tại Đài Loan. Do khoảng cách địa lý khiến vợ chồng thiếu quan tâm, chăm sóc, chia sẻ lẫn nhau dẫn đến việc không hiểu nhau và xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nay, chị P làm đơn khởi kiện ly hôn anh thì quan điểm của anh về việc giải quyết vụ án này như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh không đồng ý ly hôn vì chị P không có mặt tại Việt Nam, anh muốn gặp nói chuyện trực tiếp với chị P nếu chị P kiên quyết ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: Anh xác định vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Khánh M, sinh ngày 27/10/2017. Hiện cháu M đang ở cùng ông bà ngoại như chị P đã trình bày. Nếu anh và chị P ly hôn thì anh đồng ý để chị P trực tiếp nuôi cháu M cho đến khi cháu M thành niên và lao động tự túc được. Anh sẽ tự có trách nhiệm với con còn đối với việc chị P không yêu cầu anh phải cấp dưỡng nuôi con thì anh đồng ý và đề nghị Tòa án ghi nhận vào bản án.
Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức đóng góp của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: anh A xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Cháu Nguyễn Khánh M là con chung của anh Nguyễn Ngọc A và chị Nguyễn Thị Phương trình B quan điểm: Nếu bố mẹ cháu phải ly hôn thì cháu xin được ở với mẹ và ông bà ngoại.
- Ông Nguyễn Tuấn A1 và bà Trần Thị Kim T Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày quan điểm: Ông bà đồng ý nhận nuôi cháu Nguyễn Khánh M thay chị P cho tới khi chị P về nước đón cháu M và không yêu cầu bất kỳ ai phải cấp dưỡng nuôi cháu M hay trả thù lao gì cho ông bà.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng qui định trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung đề nghị hội đồng xét xử:
Căn cứ các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị P. Cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Nguyễn Ngọc A.
Về con chung: Giao cho chị P nuôi dưỡng cháu Nguyễn Khánh M, sinh ngày 27/10/2017. Tạm giao cho ông Nguyễn Tuấn A1 và bà Trần Thị Kim T nuôi dưỡng cháu M trong thời gian chị P lao động ở nước ngoài.
Anh Nguyễn Ngọc A không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Nguyễn Ngọc A vẫn có quyền, nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn.
Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức đóng góp: đương sự không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị P nộp đơn xin ly hôn anh Nguyễn Ngọc A tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Trong đơn xin ly hôn, chị P trình bày hiện chị làm việc theo hợp đồng lao động tại Đài Loan. Tại Công văn số 328/QLXNC-Đ1 ngày 08/4/2025 của Phòng Q Công an tỉnh P về việc trao đổi thông tin xuất nhập cảnh xác nhận chị P xuất cảnh lần gần nhất ngày 30/11/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Anh Nguyễn Ngọc A là bị đơn có nơi cư trú tại tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Trong vụ án này chị P không có mặt ở Việt Nam nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng với quy định của pháp luật.
Chị Nguyễn Thị P, Ông Nguyễn Tuấn A1, Bà Trần Thị Kim T xin giải quyết vắng mặt; Anh Nguyễn Ngọc A có mặt. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị P, Ông Tuấn A1, Bà T.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Ngọc A trước khi đăng ký kết hôn có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 10/4/2017 tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 chị P đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan do khoảng cách địa lý khiến vợ chồng thiếu sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau dẫn đến xảy ra mâu thuẫn. Chị P xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng đã hết nên chị đề nghị được ly hôn với anh A. Mặc dù anh Nguyễn Ngọc A không đồng ý ly hôn với lý do chị P không có mặt tại Việt Nam, anh muốn gặp nói chuyện trực tiếp với chị P nhưng anh A cũng xác nhận giữa hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do khoảng cách địa lý thiếu sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ lẫn nhau, không hiểu nhau dẫn đến cãi vã và không nói chuyện với nhau. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh A trình bày trường hợp chị P kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.
Do vậy, có căn cứ xác định giữa chị P và anh A mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị P được ly hôn anh A là phù hợp với khoản 1 điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Ngọc A có 01 con chung là cháu Nguyễn Khánh M, sinh ngày 27/10/2017, hiện nay cháu M đang ở với ông bà ngoại là ông Nguyễn Tuấn A1 và bà Trần Thị Kim T. Anh A1 và chị P đều thống nhất trường hợp ly hôn, cháu M sẽ do chị P trực tiếp nuôi dưỡng, trong thời gian chị P ở nước ngoài thì tạm giao cho ông Nguyễn Tuấn A1 và bà Trần Thị Kim T nuôi dưỡng. Xét thấy đề nghị của anh A1, chị P không trái pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu M xin được ở chị P cùng ông bà ngoại; ông Nguyễn Tuấn A1 và bà Trần Thị Kim T cũng đồng ý nhận nuôi cháu M trong thời gian chị P ở nước ngoài nên cần giao cháu M cho chị P được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị P không yêu cầu anh A1 phải cấp dưỡng nuôi con chung, ông A1 và bà T nhận nuôi cháu M thay cho chị P và cũng không yêu cầu cấp dưỡng gì đây là sự tự nguyện của đương sự cần ghi nhận.
[2.3] Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh A1 và chị P đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Chị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Nguyễn Ngọc A.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cháu Nguyễn Khánh M, sinh ngày 27/10/2017. Anh Nguyễn Ngọc A không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị P. Vì chị P tự nguyện không yêu cầu.
Trong thời gian chị P ở nước ngoài thì tạm giao cháu M cho ông Nguyễn Tuấn A1 và bà Trần Thị Kim T trực tiếp nuôi cho đến khi chị P về nước đón cháu M.
Anh Nguyễn Ngọc A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị P đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa số 0000625 ngày 28/4/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ (do bà Trần Thị Kim T nộp thay).
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Anh Nguyễn Ngọc A có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Ông Nguyễn Tuấn A1 và bà Trần Thị Kim T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đợc bản án hoặc bản án đợc niêm yết hợp lệ. Thời hạn kháng cáo của chị P là 01 (một) tháng, kể từ ngày nhận đợc bản án hoặc bản án đợc niêm yết hợp lệ lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Nguyễn Bá Điền Nguyễn Xuân Đào | Nguyễn Hà Giang |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 76/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 76/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị P- Nguyễn Ngọc A: Tranh chấp hôn nhân gia đình
