Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28-02-2025

V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lam;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Mão;
2. Ông Trần Xuân Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 507/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 04 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Đ, sinh năm 1995; địa chỉ: Khối M, phường H (trước đây là xã H), thành phố V, tỉnh Nghệ An (Đề nghị xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1995;
  3. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khối M, phường H (trước đây là xã H), thành phố V, tỉnh Nghệ An

    Hiện không sinh sống và làm việc trên lãnh thổ Việt Nam (không rõ địa chỉ, đã được tống đạt hợp lệ các văn bản về việc mở phiên tòa lần thứ hai bằng phương thức niêm yết công khai tại nơi cư trú trước khi xuất cảnh).

  4. Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1969 (Bố đẻ của bị đơn);
  5. địa chỉ: Khối Đ, phường H (trước đây là xã H), TP V, tỉnh Nghệ An (Đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nội dung đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn chị Trần Thị Đ trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau vào ngày 22/04/2020 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là phường H), thành phố V, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn được thời gian ngắn vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Năm 2023, anh Nguyễn Văn T xuất khẩu lao động và hai người ly thân, từ đó đến nay không quan tâm lẫn nhau. Chị Đ chỉ biết anh T xuất khẩu lao động nhưng không biết ở quốc gia nào nên không biết địa chỉ để cung cấp cho Tòa án. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị Đ và anh T đã có 01 con chung tên là Nguyễn Thị Anh T2, sinh ngày 05/11/2018 chị Đ đang trực tiếp nuôi dưỡng, nếu được ly hôn nguyện vọng của chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, bản sao đơn khởi kiện, các tài liệu do nguyên đơn giao nộp và các văn bản tố tụng về việc mở phiên họp, phiên tòa cho bị đơn thông qua người làm chứng là bố đẻ của bị đơn ông Nguyễn Văn T1.

Lời trình bày của người làm chứng ông Nguyễn Văn T1: Ông có quan hệ với bị đơn là bố đẻ. Về quan hệ hôn nhân, con chung giữa chị Đ và anh T đúng như chị Đ trình bày. Sau khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án và bản sao các tài liệu do nguyên đơn nộp cho Tòa án ông đã thông báo cho anh T biết nội dung các văn bản đó thông qua nền tảng mạng xã hội nhưng vì lý do công việc thường xuyên thay đổi nơi ở nên anh T không có địa chỉ cụ thể do đó không có căn cứ để cung cấp cho Tòa án. Thông qua ông, anh T đồng ý với nội dung và phạm vi khởi kiện của chị Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, thư ký đã ban hành các quyết định và thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định pháp luật.

Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người làm chứng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 77 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được bố đẻ của mình cung cấp nội dung các văn bản tố tụng về việc nguyên đơn khởi kiện mà mình tham gia với tư cách là bị đơn nhưng vẫn cố tình giấu địa chỉ, không chấp hành các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, và Quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất đã được tống đạt hợp lệ nên vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

Về nội dung: Xét thấy nguyên đơn và bị đơn là những người đủ tuổi kết hôn, đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, TP V, tỉnh Nghệ An vào ngày 22/04/2020, không vi phạm điều cấm của luật nên hôn nhân hợp pháp. Sau khi xuất cảnh anh T không liên lạc với chị Đ cho thấy hai người không quan tâm lẫn nhau, điều này cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Trần Thị Đào ly H anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Căn cứ vào thực tiễn và ý kiến của nguyên đơn và bị đơn, đề nghị giao cháu Nguyễn Thị Anh T2 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng; nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Trần Thị Đ phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Nguyễn Văn T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh tại khối M, phường H, TP V, tỉnh Nghệ An. Văn bản số: 5408/QLXNC-Đ1 ngày 20/12/2024 của Phòng Q Công an tỉnh N cho biết, anh Nguyễn Văn T đã xuất cảnh qua cửa khẩu quốc tế sân bay N lần cuối là ngày 21/8/2023 đến nay chưa nhập cảnh. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

[2] Sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn vắng mặt, Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ của bị đơn, tiến hành xác minh theo yêu cầu, nhưng không có kết quả. Lời trình bày của ông Nguyễn Văn T1 là bố đẻ của bị đơn thì ông T1 đã thông báo nội dung và phạm vi khởi kiện của nguyên đơn mà Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã thụ lý, giải quyết cho anh T nhưng anh ấy vẫn không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú hiện nay của mình, thông qua ông T1 anh ấy cho biết đồng ý với nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bởi vậy nên, đây được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối cung cấp tài liệu chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt do đó vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Nguyên đơn, người làm chứng đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiếp tục duy trì phiên tòa.

[3] Nội dung vụ án: Đánh giá lời khai của nguyên đơn, người làm chứng và các tài liệu có tại hồ sơ Hội đồng xét xử có căn cứ để khẳng định:

[3.1] Quan hệ hôn nhân:

Tại thời điểm kết hôn chị Đ và anh T đủ điều kiện kết hôn theo luật định, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 22/4/2020 tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là phường H) thành phố V, tỉnh Nghệ An, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Năm 2023, anh T xuất cảnh ra khỏi lãnh thổ Việt Nam và hai người ly thân từ đó, giữa hai người không liên lạc, quan tâm lẫn nhau cho thấy nguyên đơn và bị đơn đã vi phạm vào khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Nay, nguyên đơn không còn tình cảm với bị đơn, xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Trần Thị Đ được ly hôn với anh Nguyễn Văn T theo quy định tại các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.

[3.2] Con chung: Cháu Nguyễn Thị Anh T2, sinh ngày 05/11/2018 là con chung của nguyên đơn và bị đơn, hiện nay nguyên đơn đang trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, bị đơn không sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn về việc nuôi con chung là chính đáng, phù hợp với nguyện vọng của bị đơn và hoàn cảnh thực tế. Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung nên cần áp dụng Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình, giao con chung cho chị Trần Thị Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.3] Tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết, bị đơn không có ý kiến gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 19; Các Điều 51, 56, 58, 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 207; Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Trần Thị Đ được ly hôn bị đơn anh Nguyễn Văn T.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Anh T2, sinh ngày 05/11/2018 cho chị Trần Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.
  3. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở, không được lạm dụng việc thăm nom con chung để gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu người nào vi phạm thì người có quyền, yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.

    Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con bằng một vụ án dân sự độc lập khác.

  5. Án phí: Buộc chị Trần Thị Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Xuân Đ1 đã nộp thay theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013139 ngày 14/10/2024 có tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
  6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND phường Hưng Đông;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Văn Lam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 76/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger