|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2025/HNGĐ-ST Ngày 27-5-2025 V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tâm.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Thanh Việt;
- Ông Phạm Minh Tấn.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 27/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 48/2025/TLST-HNGĐ ngày 14/4/2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/5/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trương Lê Thúy H, sinh năm 1992;
- Địa chỉ: F Hồ B, tổ E, khu V, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
- - Bị đơn: Ông Bùi Long T, sinh năm 1992;
- Địa chỉ: Khu phố G, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Định.
- Nguyên đơn, bị đơn có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 14/4/2025 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Trương Lê Thúy H trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Bùi Long T có tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 09/02/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ ông T một thời gian, sau đó vợ chồng về nhà mẹ bà ở P ở. Ông T yêu cầu bà nhập hộ khẩu của bà và con về hộ khẩu của cha mẹ ông T, bà không đồng ý, nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Trong thời gian này, bà vào Q làm, còn ông T thì ở tại nhà mẹ của bà; nhưng do vợ chồng tính tình không hợp, có nhiều bất đồng, nên thường xuyên xảy ra việc cãi vã, xúc phạm nhau. Thời gian sau đó ông T vào Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn, ông T có đi về thăm con, nhưng mỗi lần gần nhau thì ông T thường xuyên đòi hỏi nhu cầu sinh lý, bà không đáp ứng được thì ông T gây sự, nhiều lần đánh bà. Từ đó bà luôn có tâm lý sợ hãi mỗi khi ông T đi về, nên tình cảm vợ chồng không còn. Nay cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Bùi Long T.
Về con chung: Bà và ông Bùi Long T có 02 con chung tên Bùi Trương Thúy H1, sinh ngày 08/11/2017 và Bùi Trương Thúy D, sinh ngày 27/10/2020, hiện các con đang được bà nuôi dưỡng ổn định. Hiện bà đã có hộ khẩu và nhà riêng tại Q; đang làm y tế doanh nghiệp tại Q, thu nhập bình quân 9.000.000 đồng/tháng, đủ điều kiện để nuôi dưỡng các con; nên bà yêu cầu nuôi hết 02 con chung. Bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Bùi Long T trình bày:
Về hôn nhân: Về thời gian kết hôn thì ông thống nhất như bà H trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhà cha mẹ ông thời gian ngắn rồi vào ở chung với mẹ của bà H ở P; trong thời gian này, ông ở nhà làm nuôi con, còn bà H thì vào Q làm và đi học ngành y tại Đà Nẵng; vợ chồng có bất đồng trong việc bà H không chuyển khẩu về phía cha mẹ ông, nhưng mâu thuẩn giữa vợ chồng cũng không có gì lớn. Đến thời gian sau, ông vào Thành phố Hồ Chí Minh làm, sau đó mở công ty X, hàng tháng ông đều gửi tiền về cho bà H nuôi con, mỗi tháng khoảng 30 đến 40 triệu đồng; khoảng một vài tháng thì ông về ở khoảng 15 ngày thăm vợ con, nhưng mỗi lần ông về thì bà H thường xa lánh ông trong việc quan hệ vợ chồng, do đó nhiều lúc ông bực tức có đánh bà H; trong cuộc sống, bà H không quan tâm gì đến gia đình, bỏ bê con cái. Từ đầu năm 2025 đến nay, vợ chồng ông không gặp gỡ, nhưng ông vẫn quan tâm đến các con. Nay bà H yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý, vì ông còn yêu vợ, thương con.
Về con chung: Ông và bà Trương Lê Thúy H có 02 con chung tên Bùi Trương Thúy H1, sinh ngày 08/11/2017 và Bùi Trương Thúy D, sinh ngày 27/10/2020, hiện các con đang được bà H nuôi dưỡng. Nếu bà H vẫn kiên quyết ly hôn thì ông yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, ông không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát huyện H, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình tòa án thụ lý vụ án, Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành thu thập chứng cứ, tổ chức phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải đúng quy định. Tại phiên tòa, HĐXX thực hiện đúng quy định; đảm bảo quyền tranh tụng, tranh luận của các đương sự. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào lời khai và yêu cầu của các bên; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; cho bà Trương Lê Thúy H và ông Bùi Long T được ly hôn; đề nghị giao 02 con chung tên Bùi Trương Thúy H1, sinh ngày 08/11/2017 và Bùi Trương Thúy D, sinh ngày 27/10/2020 cho bà Trương Lê Thúy H tiếp tục nuôi dưỡng; ông Bùi Long T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Trương Lê Thúy H có đơn yêu cầu ly hôn ông Bùi Long T. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Bùi Long T có đăng ký thường trú tại thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Lê Thúy H và ông Bùi Long T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 09/2/2017, nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, do các bên tính tình không hợp nhau, nên sau khi chung sống một thời gian thì vợ chồng bà H và ông T phát sinh mâu thuẫn. Từ việc bà H không đồng ý nhập khẩu về phía cha mẹ ông T ở, vợ chồng đã có bất đồng về xác định nơi ở, nên vợ chồng đã về phía mẹ bà H ở. Trong thời gian này, bà H vào Q làm, còn ông T ở đó nuôi con, giữa ông T và gia đình bà H xảy ra nhiều mâu thuẫn trong sinh hoạt, do đó bà H và ông T cũng thường xuyên xảy ra bất đồng, dẫn đến việc cải vã, xúc phạm nhau. Từ năm 2020, ông T vào Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn; hàng tháng ông T có gửi tiền về cho bà H nuôi con, nhưng vợ chồng cũng không có cuộc sống hòa thuận; khoảng một vài tháng ông T có về sống chung với bà H, nhưng vợ chồng không còn gắn kết với nhau trong tình cảm, bà H thường xuyên né tránh ông T trong việc quan hệ vợ chồng; từ đó làm cho ông T nghi ngờ bà H, bức xúc tâm lý, nên nhiều lần ông T đánh bà H; từ đó tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được; giữa vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau; phần ai nấy sống; do đó bà H làm đơn xin ly hôn với ông T.
Đối với ông T yêu cầu được đoàn tụ để vợ chồng chung sống; nhưng trong thời gian dài, ông không thể hiện gì việc quan tâm xây dựng hạnh phúc, ông cũng không chứng minh được việc chủ động hàn gắn tình cảm với bà H; từ năm 2020, ông đi làm ở Thành phố Hồ Chí Minh, thì vợ chồng không thường xuyên gần gũi nhau; mỗi lần ông về thì cũng không thể hiện sự quan tâm đến bà H, mà còn gây tâm lý sợ hãi cho bà H; từ đó tình cảm giữa ông và bà H ngày càng lạnh nhạt, cuộc sống hôn nhân không còn tồn tại; thực tế từ năm 2020 đến nay, vợ chồng ông T, bà H không còn sống chung với nhau, mỗi người đều lo cho cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến nhau. Do đó việc ông T yêu cầu đoàn tụ là không có cơ sở để chấp nhận.
Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Trương Lê Thúy H và ông Bùi Long T mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng thì cũng không hạnh phúc; thực tế họ không sống chung với nhau; nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về con chung: Bà Trương Lê Thúy H và ông Bùi Long T có 02 con chung tên Bùi Trương Thúy H1, sinh ngày 08/11/2017 và Bùi Trương Thúy D, sinh ngày 27/10/2020, hiện 02 con đang được bà H nuôi dưỡng ổn định. Tại Toà, bà H và ông T đều yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung. Xét, việc giao con chung chưa thành niên cho ai trông nom, nuôi dưỡng phải xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của người con, đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của con, có xem xét đến điều kiện nuôi dưỡng, giáo dục của mỗi bên. Bà H và các con đã đăng ký nơi cư trú tại thành phố Q; các con đang được bà H nuôi dưỡng ổn định, bà H đang có công việc ổn định, thu nhập bình quân đảm bảo đủ để lo cho 02 con. Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/4/2025 của cháu H1 có nguyện vọng được tiếp tục ở với bà H. Đồng thời, cháu H1 và cháu D sống với nhau từ nhỏ, tình cảm chị em gắn bó; các cháu đang học tập ổn định ở thành phố Q, đang quen với môi trường học tập, bạn bè, thầy cô. Để không làm ảnh hưởng tới tâm lý, môi trường sống, học tập của các cháu, nên cần giao 02 con chung cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và đúng quy định của pháp luật.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Trương Lê Thúy H không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Lê Thúy H và ông Bùi Long T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Bà Trương Lê Thúy H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
- Về con chung: Giao con chung tên Bùi Trương Thúy H1, sinh ngày 08/11/2017 và Bùi Trương Thúy D, sinh ngày 27/10/2020 cho bà Trương Lê Thúy H tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Bùi Long T được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm, bà Trương Lê Thúy H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu số 0004915, ngày 14/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.
Bà Trương Lê Thúy H được ly hôn ông Bùi Long T.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, các bên: Người thân thích của con; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Tâm |
Bản án số 76/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 76/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
