Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2025/HNGĐ-ST

Ngày 18-11-2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Đức Vịnh

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Tâm

Ông Nguyễn Văn Quyết.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khanh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng, tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Quang Khải – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 54/2025/QĐĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Vũ Thị L, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn X, xã V, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
  • Bị đơn: Anh Trịnh Văn H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn X, xã V, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên hòa giải, nguyên đơn là chị Vũ Thị L trình bày:

Chị và anh Trịnh Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng vào ngày 17/02/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không tôn trọng nhau. Mặc dù đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trịnh Văn H.

Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Trịnh Thị Diệp N, sinh ngày 10/8/2015 và Trịnh Tuấn A, sinh ngày 19/7/2019, hiện cả 02 con chung đang sinh sống cùng với anh H. Khi ly hôn, chị đồng ý giao cả 02 con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị xin tự thoả thuận với anh H, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Trịnh Văn H vắng mặt toàn bộ quá trình tố tụng và không có quan điểm về việc giải quyết vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành xác minh tại địa phương và gia đình anh H xác định được: Về thời gian, điều kiện kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng như nội dung chị L trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hiện vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau; về con chung: Anh H và chị L có 02 con chung là Trịnh Thị Diệp N, sinh ngày 10/8/2015 và Trịnh Tuấn A, sinh ngày 19/7/2019, hiện cả 02 con chung đang sinh sống cùng với anh H; về tài sản chung và nợ chung: Không xác định được.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng, xác định quan hệ tranh chấp về Ly hôn, tranh chấp nuôi con là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, về thẩm quyền đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành không đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho chị Vũ Thị L được ly hôn anh Trịnh Văn H; về con chung: Giao 02 con chung là Trịnh Thị Diệp N, sinh ngày 10/8/2015 và Trịnh Tuấn A, sinh ngày 19/7/2019 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị L và anh H không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết. Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Vũ Thị L có đơn xin ly hôn với anh Trịnh Văn H có nơi cư trú tại xã V, thành phố Hải Phòng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án Hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng.

[2] Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành không đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan; nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về nội dung vụ án:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị L và anh Trịnh Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng vào ngày 17/02/2014. Như vậy, hôn nhân này là hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị L và anh H chung sống hòa thuận hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, lối sống, không hợp nhau về tính cách nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tôn trọng nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L xin ly hôn, anh H không có quan điểm về việc ly hôn. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh H vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan, qua xác minh tại địa phương và gia đình anh H xác định được mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh H như nội dung chị L trình bày là đúng, từ đó xác định được mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị L xin ly hôn với anh Trịnh Văn H.

[4] Về con chung: Chị L và anh H có 02 con chung là Trịnh Thị Diệp N, sinh ngày 10/8/2015 và Trịnh Tuấn A, sinh ngày 19/7/2019, hiện cả 02 con chung đang sinh sống cùng với anh H. Khi ly hôn, chị L đồng ý giao cả 02 con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu Trịnh Thị Diệp N đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng được sinh sống cùng anh H, cháu Trịnh Tuấn A đã trên 05 tuổi hiện đang sinh sống cùng anh H và ông bà nội, anh H có việc làm và có thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung tốt. Do đó, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, căn cứ quy định tại các điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao 02 con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp. Việc cấp dưỡng nuôi con, do chị L và anh H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh H không yêu cầu nên không xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị L phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị L được ly hôn anh Trịnh Văn H.
  2. Về con chung: Giao 02 con chung là Trịnh Thị Diệp N, sinh ngày 10/8/2015 và Trịnh Tuấn A, sinh ngày 19/7/2019 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, hai bên tự thoả thuận, không xét giải quyết.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, không xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị L đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0001354 ngày 20/8/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị L và anh H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND khu vực 7 – Hải Phòng;
  • - THADS thành phố Hải Phòng;
  • - UBND xã Vĩnh Thuận, thành phố Hải Phòng;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hành chính tư pháp, hồ sơ việc dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Đức Vịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2025/HNGĐ-ST ngày 18/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 76/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger