Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 76/2025/HNGĐ-ST

Ngày 18/11/2025

V/v “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Việt Tím
  2. Ông Phạm Văn Động

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Ni, thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2025/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2025 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Danh Kim N, sinh năm: 1992 (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã T, tỉnh An Giang.

Tạm trú: ấp N, xã G, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm: 1990 (Vắng mặt lần 2)

Địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/7/2025 và các lời khai có trong hồ sơ vụ án tại phiên toà nguyên đơn chị Danh Kim N trình bày:

Chị Danh Kim N và anh Bùi Văn T chung sống với nhau vào năm 2008, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang (Nay là xã G, tỉnh An Giang) vào ngày 10/7/2013, số 76/2013. Trước khi chung sống vợ chồng có tìm hiểu nhau trước, mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện, không bị cưỡng ép.

Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, có lỗi sống không phù hợp, anh T hay ghen tuông vô cớ và thường xuyên đánh chị.

Nay, chị N xét thấy tình cảm vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay.

- Về con chung vợ chồng có 02 con chung tên Bùi Tuấn V, sinh ngày 09/12/2008 và Bùi Thị Mỹ K, sinh ngày 27/3/2011, hiện nay cháu V ở với mẹ, còn cháu K ở với cha.

- Về tài sản: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về phần nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Danh Kim N yêu cầu ly hôn với anh Bùi Văn T.

- Về con chung: Chị N yêu cầu được nuôi cháu Bùi Tuấn V, sinh ngày 09/12/2008, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Chị N đồng ý giao con Bùi Thị Mỹ K, sinh ngày 27/3/2011 cho anh Bùi Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc giáo dục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về phần nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt, hợp lệ giấy triệu tập cho anh Bùi Văn T tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng anh T đều không có mặt và không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con, bị đơn anh Bùi Văn T đang cư trú tổ C, ấp T, xã T, tỉnh An Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu Vực 3, tỉnh An Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Bùi Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Bùi Văn T.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị Danh Kim N và anh Bùi Văn T chung sống với nhau vào năm 2008, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang (Nay là xã G, tỉnh An Giang) vào ngày 10/7/2013, số 76/2013 là phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[4] Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị D Kim Ngân Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi kết hôn, chị Kim N và anh Bùi Văn T chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp, anh T hay ghen tuông vô cớ và thường đánh chị Kim N. Chị N có khuyên ngăn nhiều lần nhưng anh T vẫn không thay đổi, chị N và anh T đã nhiều lần nếu kéo cuộc hôn nhân nhưng không mang lại kết quả. Hiện nay anh chị đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai, không chăm sóc, giúp đỡ nhau, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hiện được tình nghiã vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; .... Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau,……”.

[5] Đối với anh Bùi Văn T Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thủ tục tố tụng cho anh T tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để Tòa án động viên chị N và anh T quay về đoàn tụ tiếp tục cuộc sống hôn nhân và nuôi dạy con chung nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản gửi cho Tòa án về ý kiến và yêu cầu của mình. Đều này chứng tỏ anh T bỏ mặc không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa anh và chị N nữa. Từ những nội dung trên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, khoản 4, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định “ Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn....”.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Danh Kim N.

[6] Về con chung: Chị Kim N xác nhận vợ chồng có 02 con chung tên Bùi Tuấn V, sinh ngày 09/12/2008 và Bùi Thị Mỹ K, sinh ngày 27/3/2011 hiện nay cháu V ở với chị N còn cháu K ở với anh T.

Chị Kim N yêu cầu được nuôi con Bùi Tuấn V, sinh ngày 09/12/2008 chị Kim N đồng ý giao con Bùi Thị Mỹ K, sinh ngày 27/3/2011 cho anh Bùi Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc giáo dục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Theo nguyên vọng của cháu V cháu có nguyện vọng ở với mẹ, còn cháu K có nguyện vọng ở với cha.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“ Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con ” .

Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được nuôi con của chị Danh Kim N. Tiếp tục giao Bùi Tuấn V, sinh ngày 09/12/2008 cho chị D Kim Ngân trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng.

Tiếp tục giao con Bùi Thị Mỹ K, sinh ngày 27/3/2011 cho anh Bùi Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc giáo dục nuôi dưỡng.

Chị Kim N và anh Bùi Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn chị Kim N, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời chị Kim N, anh T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[7] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về phần nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Danh Kim N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 51,56,69,81,82,83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Danh Kim N.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Danh Kim N được ly hôn với anh Bùi Văn T.
  3. Về con chung: Tiếp tục giao con Bùi Tuấn V, sinh ngày 09/12/2008 cho chị D Kim Ngân trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng.

Tiếp tục giao con Bùi Thị Mỹ K, sinh ngày 27/3/2011 cho anh Bùi Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc giáo dục nuôi dưỡng.

Chị Kim N và anh Bùi Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn chị Kim N, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời chị Kim N, anh T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

  1. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Danh Kim N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số: 0000220 ngày 30/7/2025 của Thi hành dân sự tỉnh An Giang.
  3. Quyền kháng cáo: Chị Danh Kim N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Bùi Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh An Giang
  • - VKSND Khu Vực 3;
  • - THA dân sự tỉnh An Giang;
  • - UBND xã;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Danh Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2025/HNGĐ-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 76/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Ngân yêu cầu ly hôn với anh Tuấn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger