|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2025/HNGĐ-ST Ngày 16 - 6 - 2025 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Danh
Bà Trần Thị Mộng Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Cao Thiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 195/2025/TLST-HNGĐ ngày 09/4/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1989.
HKTT: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Địa chỉ hiện nay: 18/38 khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Kiều V, sinh năm 1989.
HKTT: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Địa chỉ hiện nay: Phòng trọ T, phòng 13, tổ B, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huyền T trình bày:
Năm 2012, tôi và ông Kiều V quen biết nhau. Sau một thời gian tìm hiểu thì chúng tôi phát sinh tình cảm và muốn gắn bó lâu dài với nhau nên năm 2016 thì chúng tôi đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 246 ngày 30/12/2016. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc.
Thời gian đầu chúng tôi chung sống hoà thuận, hạnh phúc nhưng từ khoảng tháng 9/2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông V thường xuyên nhậu nhẹt, đánh đập vợ con nên cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù cả hai đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không thành nên mâu thuẫn giữa hai người càng ngày càng trầm trọng. Vì vậy từ đó đến nay chúng tôi đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa.
Nay nhận thấy tình cảm dành cho nhau không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
+ Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Kiều V.
+ Về con chung: Tôi và ông Kiều V có 01 con chung là cháu Kiều Ngọc Phúc A, sinh ngày 30/12/2017. Sau khi ly hôn thì tôi đề nghị giao cháu A cho tôi trực tiếp nuôi dưỡng, tôi không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Kiều V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi thống nhất với lời trình bày của bà T.
Về mâu thuẫn: Mâu thuẫn giữa chúng tôi là có thật nhưng không đến mức trầm trọng. Hiện nay, tôi vẫn còn tình cảm với bà T nên tôi không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Tôi và bà T có 01 con chung là cháu Kiều Ngọc Phúc A, sinh ngày 30/12/2017. Trường hợp nếu Toà án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T thì tôi đề nghị cho cháu A tự quyết định việc muốn chung sống cùng với ba hay mẹ. Tôi không có ý kiến gì khác.
Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án và không ai cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phát biểu quan điểm như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1 Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bà Nguyễn Thị Huyền T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Kiều V nên xác định đây là “Tranh chấp về ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Kiều Vcó hộ khẩu thường trú tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và hiện đang sống tại Phòng trọ T, phòng 13, tổ B, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
2 Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huyền T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Kiều V đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do và không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự thì Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
3 Xét đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Huyền T, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Kiều V có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 246 ngày 30/12/2016. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Bà T và ông V đều xác nhận thời gian đầu hai người chung sống hoà thuận, hạnh phúc nhưng từ tháng 9/2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và từ đó đến nay thì hai người đã sống ly thân. Nguyên nhân là do ông V thường xuyên nhậu nhẹt, đánh đập vợ con nên cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn. Bà T cho rằng bà T đã nhiều lần tha thứ và cho ông V cơ hội sửa chữa nhưng ông V không thay đổi nên mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng và không tìm được tiếng nói chung. Còn ông V cho rằng mình vẫn còn yêu thương bà T nên không muốn ly hôn, việc chửi bới, đánh đập bà T là do đi nhậu về say nên không kiểm soát được hành vi chứ không phải do ông V cố ý.
Nhận thấy: Qua lời trình bày của các đương sự xác định mâu thuẫn giữa ông V và bà T là có thật và những mâu thuẫn này xuất phát từ việc ông V thường xuyên nhậu nhẹt và đánh đập, chửi bới bà T dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Bà T đã nhiều lần tha thứ và cho ông V cơ hội sửa chữa nhưng ông V không thay đổi nên cả hai đã sống ly thân từ tháng 9/2024 đến nay. Bà T xác định hiện nay đã hết tình cảm với ông V nên đề nghị Toà án giải quyết ly hôn để giải thoát cho cả hai. Như vậy, có căn cứ xác định ông V có hành vi bạo lực gia đình khiến hôn nhân giữa bà T và ông V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông V theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung:
Bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Kiều V xác nhận trong thời gian chung sống vợ chồng thì bà T và ông V có 01 con chung là cháu Kiều Ngọc Phúc A, sinh ngày 30/12/2017. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu A và không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, hiện nay cháu A đang sống cùng bà T và mong muốn của cháu A là sẽ được tiếp tục sống cùng mẹ. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông V vắng mặt không có lý do, tuy nhiên quá trình tố tụng tại Tòa án ông V đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con theo nguyện vọng của cháu A. Do đó, để bảo đảm cho sự ổn định trong cuộc sống, giúp cháu phát triển tốt về tinh thần lẫn thể chất thì Hội đồng xét xử giao cháu A cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà T không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi cháu A nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung:
Do bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Kiều V không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án thì nguyên đơn bà T phải chịu án phí theo quy định. Ông V không phải chịu.
[5] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Huyền T về việc “Ly hôn” đối với ông Kiều V.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Huyền T được ly hôn với ông Kiều V.
- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Kiều Ngọc Phúc A, sinh ngày 30/12/2017 cho bà Nguyễn Thị Huyền T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi trưởng thành. Ông Kiều V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Kiều V được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể xem xét quyết định việc hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Huyền T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002415 ngày 08/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà T đã nộp đủ án phí.
Ông Kiều V không phải chịu án phí sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/6/2025) lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với ông Kiều V thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự:
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngân |
Bản án số 76/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 76/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Huyền T yêu cầu ly hôn đối với Kiều V
