Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 76/2025/HN-ST

Ngày: 10-12-2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

Với Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Ngọc Duyên.
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    • Ông Đỗ Thanh Tùng
    • Ông Đỗ Thanh Tuyến
  • - Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Bình Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Minh Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 10/12/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 118/2025TLST - HN ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/11/2025 và quyết định hoãn phiên toà số: 128/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03/12/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Trần Thị Bảo K, sinh năm 2003; địa chỉ: số F, N, khu phố Đ, phường T, Tp . (vắng có đơn).
  2. Bị đơn: anh Nguyễn Hoàng G, sinh năm 1994; địa chỉ: số C, ấp H, xã L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30/9/2025 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị Bảo K trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hoàng G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 19/5/2021 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre. Trong thời gian chung sống, hai bên dần bộc lộ những điểm khác biệt trong lối sống, suy nghĩ và cách ứng xử. Những bất đồng ngày càng nghiêm trọng dẫn đến bất hoà thường xuyên. Hai bên không còn có thể chia sẻ, thấu hiểu nhau như trước. Mặc dù đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng mọi nỗ lực đều không có kết quả. Mâu thuẫn mỗi ngày một lớn khiến không khí gia đình luôn căng thẳng. Cả hai không còn quan tâm, yêu thương, hỗ trợ nhau trong cuộc sống, đã sống ly thân từ tháng 7/2023 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, hai bên đều không có thiện chí hàn gắn. Hiện cả hai không còn tình cảm vợ chồng, không có khả năng hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn với anh G.

Con chung Nguyễn Trần Đăng K1 sinh ngày 26/11/2020 hiện ở với anh G. Khi ly hôn, chị đồng ý để anh G trực tiếp nuôi con, chị cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.

Quá trình tố tụng, bị đơn anh Nguyễn Hoàng G vắng mặt không lý do, không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Bảo K.

* Tại phiên tòa:

Chị Trần Thị Bảo K vắng nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Anh Nguyễn Hoàng G vắng mặt không lý do.

Quan điểm của Viện kiểm sát:

- Về thủ tục: sau khi nhận đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ kèm theo và xem xét có đủ điều kiện thụ lý, Tòa án đã tiến hành thủ tục thủ lý vụ án theo đúng quy định so với Bộ Luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Các tài liệu, chứng cứ được thu thập đầy đủ làm cơ sở giải quyết đúng đắn vụ án. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ Luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng, đầy đủ các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử sơ thẩm vụ án, không vi phạm về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn chị K thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Bị đơn anh G không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và nên chưa thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

- Về nội dung: căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bảo K.

  • + Về hôn nhân: chị Trần Thị Bảo K được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng G.
  • + Về con chung: giao Nguyễn Trần Đăng K1 sinh ngày 26/11/2020 cho anh G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Chị K có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: chị K trình bày không có; anh G không thể hiện ý kiến nhưng cả hai không yêu cầu giải quyết.
  • + Về án phí: chị K phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục: chị Trần Thị Bảo K vắng nhưng có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Hoàng G mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[1] Về hôn nhân: chị Trần Thị Bảo K và anh Nguyễn Hoàng G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre, nay là Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 19/5/2021 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Quá trình tố tụng, nguyên đơn chị K cho rằng sau thời gian chung sống, chị và anh G xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không còn, đã ly thân từ tháng 7/2023 đến nay. Hiện hai bên không còn khả năng hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn với anh G, yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh G không tham gia các phiên hòa giải, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị K và vắng mặt tại phiên tòa.

Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: "1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình....2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác ... và lý do chính đáng khác”.

Như vậy, việc chị K và anh G sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau thể hiện cả hai đã không còn tình cảm vợ chồng, không có thiện chí hoà giải, hàn gắn, tình trạng mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và không còn khả năng hàn gắn. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của chị K là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về con chung: Nguyễn Trần Đăng K1 sinh ngày 26/11/2020. Xét thấy, trong thời gian chị K và anh G sống ly thân, cháu K1 do anh G chăm sóc, nuôi dưỡng, cuộc sống đã ổn định. Quá trình tố tụng, chị K không tranh chấp nuôi con. Do đó xét giao con chung cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng, ghi nhận chị K tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi con chung đủ 18 tuổi.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: chị K khai không có; không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị K phải nộp số tiền là 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Bảo K được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng G.
  2. Con chung: Nguyễn Trần Đăng K1 sinh ngày 26/11/2020.

    Giao Nguyễn Trần Đăng K1 sinh ngày 26/11/2020 cho anh G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

    Ghi nhận việc chị K tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 2.000.000đ (hai triệu đồng) đến khi con chung đủ 18 tuổi. Do đó, chị K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 2.000.000đ (hai triệu đồng) đến khi con chung đủ 18 tuổi. Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Chị K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Tài sản chung, nợ chung: chị K khai không có, không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

    Chị Trần Thị Bảo K phải nộp án phí là 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006053 ngày 16/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Do đó, chị K phải nộp tiếp số tiền án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Các Hội thẩm nhân dânThẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đặng Thị Ngọc D

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long
  • - VKSND khu vực 7 – Vĩnh Long;
  • - Phòng THADS khu vực 7 - Vĩnh Long;
  • - UBND xã Lương Hoà, tỉnh Vĩnh Long
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đặng Thị Ngọc Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2025/HN-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 76/2025/HN-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger