TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. ĐÀ NẴNG TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:76/2025/DS-ST Ngày 20.6.2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Nga
Hội thẩm nhân dân: - Ông Đặng Công Tâm
- Ông Phạm Xoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Minh Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng ham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ly Na - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 50/2025/TLST-DS ngày 03.02.2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QÐST-DS ngày 21.4.2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2025/QÐST-DS ngày 12.5.2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 40/2025/TB-TA ngày 28.5.2025 giữa:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P. Địa chỉ: Tòa nhà T, số A T, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T – Chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị, Người đại diện theo ủy quyền: Bà Dương Thị Thảo N, sinh năm 1985 – Phòng thu hồi nợ - Khối RB (theo Giấy ủy quyền số: 106/2025/UQ-OCB ngày 01/6/2025). Địa chỉ liên hệ: B N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Minh N1. Sinh năm 1976.
Địa chỉ: K H, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 01.12.2024, bản tự khai ngày 17/6/2025 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) bà Dương Thị Thảo N trình bày:
Ngày 22/06/2022, Ngân hàng TMCP P với bà Nguyễn Thị Minh N1 đã ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân. Theo đó, Ngân hàng đồng ý cho bà Nguyễn Thị Minh N1 mở thẻ tín dụng với hạn mức 50.000.000 đồng. Mục đích vay: mua hàng trực tuyến, thanh toán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tại cửa hàng, đại lý, nhà hàng, khách sạn mà có chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng. Thời hạn vay: 60 tháng. Lãi suất vay: 33%/ năm. Lãi suất quá hạn: 150% của lãi suất trong hạn. Sau khi ký kết Hợp đồng, Ngân hàng đã cấp hạn mức và thực hiện giải ngân số tiền vay nêu trên. Từ thời điểm nhận thẻ cho đến nay bà Nguyễn Thị Minh N1 đã sử dụng thẻ và liên tiếp vi phạm các kỳ trả nợ cho Ngân hàng. Ngày 05/01/2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà Nguyễn Thị Minh N1 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu (dư nợ gốc) sang nợ quá hạn. Bà N1 đã chi trả được tổng số tiền như sau: Nợ gốc: 49.996.665 đồng Nợ lãi : 600.056 đồng. Nợ phí : 5.399.994 đồng. Tổng cộng: 55.996.665 đồng.
Mặc dù, Ngân hàng đã có nhiều văn bản nhắc nợ cũng như đã tạo điều kiện cho bà Nguyễn Thị Minh N1 trả nợ đúng kỳ hạn nhưng mọi thiện chí của Ngân hàng đều không được đáp trả. Tạm tính đến ngày 17/06/2025, dư nợ của bà Nguyễn Thị Minh N1 tại Ngân hàng TMCP P là: Nợ gốc: 0 đồng; Nợ lãi: 37.035.441 đồng; Nợ phí : 0 đồng. Tổng cộng : 37.035.441 đồng.
Nhận thấy, thiện chí của Ngân hàng đối với khách hàng đã không còn, bà Nguyễn Thị Minh N1 đã vi phạm các điều khoản được quy định tại Hợp đồng thẻ tín dụng, không có thiện chí hợp tác với Ngân hàng trong việc trả nợ. Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích của mình, Ngân hàng TMCP P yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Minh N1 trả cho Ngân hàng số tiền nợ lãi tính đến ngày 17.6.2025 là: 37.035.441 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 0 đồng; Nợ lãi: 37.035.441 đồng (lãi trong hạn: 3.686.463 đồng và lãi quá hạn: 33.348.978 đồng).
* Đối với bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhiều lần cho bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng bà Nguyễn Thị Minh N1 không đến Tòa án tham gia tố tụng và cũng không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án là đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015, Điều 91 Luật các Tổ chức Tín dụng 2010 nay là Điều 100 Luật các Tổ chức Tín dụng 2024 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P, buộc bà Nguyễn Thị Minh N1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP P số tiền nợ lãi tính đến ngày 17.6.2025 là: 37.035.441 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP P với bà Nguyễn Thị Minh N1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hợp đồng tín dụng mà các bên đã giao kết là hợp đồng có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực đối với các bên tham gia giao dịch, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[1.2] Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do nên HĐXX căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P về việc yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Minh N1 trả cho Ngân hàng số tiền nợ lãi tính đến ngày 17.6.2025 là: 37.035.441 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và đăng ký dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân ngày 22/06/2022 giữa Ngân hàng TMCP P và bà Nguyễn Thị Minh N1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng. Đến nay, bà Nguyễn Thị Minh N1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngân hàng TMCP P khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Minh N1 trả cho Ngân hàng số tiền nợ lãi nêu trên là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bà Nguyễn Thị Minh N1 phải trả cho Ngân hàng TMCP P số tiền nợ lãi tính đến ngày 17.6.2025 là 37.035.441 đồng.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Minh N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và đề xuất về nội dung là đúng quy định pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 144, 147, 227, 228, 235, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Căn cứ Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010.
- - Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Ngân hàng TMCP P đối với bà Nguyễn Thị Minh N1.
Xử:
- Buộc bà Nguyễn Thị Minh N1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP P số tiền nợ lãi: 37.035.441 đồng (Ba mươi bảy triệu, không trăm ba mươi lăm nghìn, bốn trăm bốn mươi mốt đồng).
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Minh N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.851.772 đồng (một triệu, tám trăm năm mươi mốt nghìn, bảy trăm bảy mươi hai đồng). Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP P số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 2.082.710 đồng (hai triệu, không trăm tám mươi hai nghìn, bảy trăm mười đồng) đã nộp theo Biên lai thu số 0005101 ngày 10/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Thanh Nga |
Bản án số 76/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 76/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Ngân hàng TMCP Phương Đông đối với bà Nguyễn Thị Minh Ngọc
