|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐỒNG NAI Bản án số: 76/2025/DS-ST Ngày: 04-11-2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐỒNG NAΙ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Hồng Năm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đức Dũng
2. Bà Lại Thị Thúy Hằng
Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Vân - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 11 năm 2025, Tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 36/2025/TLVA - DS ngày 04 tháng 08 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST-DS ngày 06-10-2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 156/2025/QĐST-DS ngày 24/10/2025 giữa các đương sự :
- Nguyên đơn: Công ty TNHH H. Trụ sở: Tòa nhà Tôn Hiếu T, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (Nay là: Tòa nhà Tôn Hiếu T, xã T, tỉnh Khánh Hòa).
Tổ chức đại diện theo ủy quyền: Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H. Địa chỉ: số B B, đường N, phường B, Quận A, TP . (Nay là: số B B, đường N, phường S, TP .). (Hợp đồng ủy quyền số 0250.03/2025/HĐUQ/HDB-HPW ngày 29/3/2025).
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Hữu Đ – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Xuân T1 – Chức vụ: Giám đốc H1.
Người đại diện theo ủy quyền lại: bà Phạm Thảo Phương V, sinh năm 1991. CCCD số: [...]. Địa chỉ: ấp E, xã S, tỉnh Đồng Nai. SĐT: 02513713xxx – 0908085251 ( Giấy ủy quyền ngày 10/6/2025).
- Bị đơn:
- Ông Bùi Phú L, sinh năm 1976. CCCD số : [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 10/5/2021.
- Bà Trần Thị Kim D, sinh năm 1978. CCCD số: [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 10/5/2021.
Cùng địa chỉ: tổ G, ấp A, xã S, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở: ấp A, xã S, tỉnh Đồng Nai.
( Bà V có mặt, ông L, bà D vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn Công ty TNHH H do bà Phạm Thảo Phương V đại diện trình bày:
Ngày 29/03/2025, ngân hàng TMCP P – Chi nhánh Sở G – Phòng G1 thực hiện bán nợ cho Công ty TNHH H và Công ty TNHH H ủy quyền cho ngân hàng TMCP P đại diện. Ngân hàng TMCP P – Chi nhánh Sở G – Phòng giao dịch Sông R đã cho ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D vay vốn theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 21759/23MN/HĐTD ngày 24/08/2023; Hợp đồng tín dụng số: 8971/22MN/HĐTD ngày 02/03/2022. Cụ thể:
- Đề nghị giải ngân kiêm KUNN số: 21759/23MN/HĐTD/KUNN02 ngày 13/11/2023. Số tiền vay là : 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng); Thời hạn vay: 12 tháng, từ ngày 13/11/2023 đến ngày 13/11/2024; Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn kinh doanh nông sản; Lãi suất cho vay trong hạn: 9.5%/năm.
- Đề nghị giải ngân kiêm KUNN số: 8971/22MN/HĐTD/KUNN03 ngày 13/11/2023; Số tiền vay: 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng); Thời hạn vay: 12 tháng, từ ngày 13/11/2023 đến ngày 13/1/2024; Mục đích sử dụng vay vốn: Bổ sung vốn chăn nuôi gà, heo; Lãi suất cho vay trong hạn: 9.5%/năm. Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông L, bà D đã thế chấp Tài sản đảm bảo là:
Toàn bộ quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất với số DĐ 619903, số vào sổ cấp GCN: CS 07946 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 24/02/2022. Chủ tài sản: Bà Trần Thị Kim D và ông Bùi Phú L.
Việc thế chấp tài sản nêu trên tuân thủ quy định pháp luật theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 7580/22MN/HĐBĐ được Văn phòng C1 chứng nhận ngày 02/03/2022, số công chứng: 001466, quyển số 02/2022TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng số: 7580/22MN/HĐBĐ/PL01 được Văn phòng C1 chứng nhận ngày 24/08/2023, số công chứng: 001916, quyển số 02/2023TP/CC-SCC/HĐGD; Đăng ký thế chấp tại VPĐKĐĐ huyện C, tỉnh Đồng Nai ngày 03/03/2022).
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho H1 đã được đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần. Tuy nhiên, đến nay khách hàng vẫn cố tình không thanh toán dứt điểm khoản nợ.
Tạm tính đến ngày 04/11/2025, tổng số tiền ông L, bà D còn phải thanh toán cho H1 theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 21759/23MN/HĐTD ngày 24/08/2023; Hợp đồng tín dụng số: 8971/22MN/HĐTD ngày 02/03/2022. Trong đó:
- Số tiền ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D còn phải thanh toán theo 21759/23MN/HĐTD/KUNN02 ngày 13/11/2023 là: Nợ gốc là: 500.000.000đ; Lãi trong hạn là: 3.904.110đ; Lãi quá hạn: 88.893.113đ.Tổng cộng: 592.797.223đ.
- Số tiền ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D phải thanh toán theo Hợp đồng tín dụng số: 8971/22MN/HĐTD/KUNN03 ngày 13/11/2023 là: Nợ gốc là : 1.499.973.622đ; Lãi trong hạn: 11.632.463đ; Lãi quá hạn: 266.667.706đ. Tổng cộng: 1.778.273.791₫.
Nhận thấy ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và các văn bản đã ký kết. Do vậy, Công ty TNHH H tiến hành khởi kiện đòi ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D. Công ty TNHH H kính đề nghị Quý Tòa xem xét giải quyết những nội dung sau:
- Buộc ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D phải thanh toán ngay một lần toàn bộ khoản nợ gốc và lãi còn thiếu cho Công ty TNHH H theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 21759/23MN/HĐTD ngày 24/08/2023 và 8971/22MN/HĐTD ngày 02/03/2022, trong đó gồm:
Số tiền ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D còn phải thanh toán theo 21759/23MN/HĐTD/KUNN02 ngày 13/11/2023 là: Nợ gốc là: 500.000.000đ; Lãi trong hạn là: 3.904.110đ; Lãi quá hạn: 88.893.113đ. Tổng cộng: 592.797.223đ.
Số tiền ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D phải thanh toán theo Hợp đồng tín dụng số: 8971/22MN/HĐTD/KUNN03 ngày 13/11/2023 là: Nợ gốc là : 1.499.973.622đ; Lãi trong hạn: 11.632.463đ; Lãi quá hạn: 266.667.706đ. Tổng cộng: 1.778.273.791đ.
Nay Công ty TNHH H yêu cầu ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D phải thanh toán tổng cộng số tiền nợ tính đến ngày 04/11/2025 là: 2.371.071.014₫ (Hai tỷ ba trăm bảy mươi mốt triệu không trăm bảy mươi mốt ngàn không trăm mười bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc: 1.999.973.622đ; Lãi trong hạn: 15.536.573đ; Lãi quá hạn: 355.560.819₫.
- Buộc ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh kể từ ngày 05/11/2025 đối với số tiền nợ còn lại theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ; Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/ sản phẩm – dịch vụ mà ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Công ty H.
- Trường hợp ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Công ty TNHH H theo yêu cầu nêu trên, kính đề nghị Tòa án chấp thuận cho Công ty TNHH H có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi các tài sản đã thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Công ty TNHH H đối với tài sản sau:
- + Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 320 tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại địa chỉ: xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền số DĐ 619903, số vào số cấp GCN: CS 07946 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Tỉnh G cấp ngày 24/02/2022.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản được dùng để thanh toán khoản nợ của ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D với Công ty TNHH H. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D cho Công ty TNHH H thì ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D vẫn phải tiếp tục có nghĩa vụ trả hết toàn bộ khoản nợ cho Công ty TNHH H đến khi tất toán.
Tài liệu, chứng cứ Ngân hàng đã giao nộp cho Tòa án: Hồ sơ tư cách pháp nhân của Công ty TNHH H và H1; Hồ sơ pháp lý của ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D; CCCD của các bị đơn: ông Bùi Phú L, bà TrầnThị Kim D1; Giấy chứng nhận kết hôn ông L, bà D1; Giấy CNQSDĐ số DĐ 619903 đứng tên bà Trần Thị Kim D; Hồ sơ tín dụng và giải ngân; Hồ sơ tài sản đảm bảo và tiền vay; Hợp đồng mua bán nợ, Hợp đồng ủy quyền; Điều lệ NHTMCP H1; Báo cáo kết quả thẩm định giá bất động sản; Phiếu chiết tính thu nợ vay; Hợp đồng ủy quyền; Đơn khởi kiện; Các văn bản, tài liệu khác liên quan. Bản tự khai, bản tính lãi đến ngày 4/11/2025.
- Bị đơn ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.
Tài liệu, chứng cứ ông L, bà D đã giao nộp cho Tòa án: không.
Tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập: biên bản xác minh, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, biên bản tống đạt các văn bản tố tụng cho ông L, bà D.
I. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Đồng Nai phát biểu ý kiến như sau:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán,
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ việc cơ bản đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ thể:
- Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Bị đơn cư trú tại xã S, tỉnh Đồng Nai nên Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đồng Nai thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 35; Điều 39 BLTTDS.
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tòa án xác định quan hệ pháp luật là "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" là đúng theo quy định khoản 3 Điều 26 BLTTDS.
- Về thời hiệu khởi kiện: không có ai yêu cầu áp dụng thời hiệu nên không xem xét.
- Về tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng: Tòa án xác định tư cách tố tụng đúng theo quy định tại các Điều 71, 72, 85 BLTTDS.
- Về thu thập chứng cứ: Đúng quy định của pháp luật theo Điều 97 BLTTDS.
- Về tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ hòa giải: Thực hiện đúng quy định từ Điều 208 đến Điều 211 BLTTDS.
- Về tạm đình chỉ vụ án: vụ án không tạm đình chỉ.
- Việc áp dụng (thay đổi, hủy bỏ) hoặc không áp dụng (thay đổi, hủy bỏ) biện pháp khẩn cấp tạm thời (nếu có): Không có.
- Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Ngày 04/8/2025 Tòa án thụ lý vụ án. Ngày 06/10/2025 ra quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng theo quy định tại Điều 203 BLTTDS.
- Quyết định đưa vụ án ra xét xử: Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025 đúng quy định tại Điều 220 BLTTDS.
- Thời hạn gửi hồ sơ cho VKS nghiên cứu: Đúng thời gian quy định tại khoản 2 Điều 220 BLTTDS.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa
HĐXX đảm bảo đúng thành phần; vô tư, khách quan khi giải quyết vụ án và tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên Tòa đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS.
3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, đại diện ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 71, 85 BLTTDS và những quy định khác của pháp luật. Riêng bị đơn không thực hiện đúng các quy định tại Điều 72 BLTTDS vắng mặt trong tất cả các lần triệu tập của Toà án.
II. Về việc giải quyết vụ án dân sự:
Công ty TNHH H (do Ngân hàng H2 làm đại diện) khởi kiện yêu cầu ông L, bà D trả số tiền nợ còn lại tính đến ngày 04/11/2025 của hai khoản vay là 2.371.071.014đ. Trong đó: Nợ gốc: 1.999.973.622đ; Lãi trong hạn: 15.536.573đ; Lãi quá hạn: 355.560.819₫.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 8971/22MN/HĐTD ngày 02/3/2022 và đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 8971/22MN/HĐTD/KUNN03 kèm theo có cơ sở để khẳng định vào ngày 13/11/2023, Ngân hàng H3 đã giải ngân cho ông L, bà D với số tiền 1.500.000.000đ.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 21759/23MN/HĐTD ngày 24/8/2023 và đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 21759/22MN/HĐTD/KUNN02 kèm theo có cơ sở để khẳng định vào ngày 13/11/2023, Ngân hàng H3 đã giải ngân cho ông L, bà D với số tiền 500.000.000đ.
Theo 02 hợp đồng trên các bên thoả thuận lãi suất trong hạn là 9,5%/năm (lãi điều chỉnh), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả 10%/năm. Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng 2024 thì hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng H3 với ông L, bà D đã tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức, chủ thể, nội dung không trái đạo đức xã hội; các thỏa thuận về lãi không trái quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng tín dụng trên có hiệu lực pháp luật. Ông L, bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 14/10/2024 nên phải có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi phát sinh theo quy định. Lãi suất đôi bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng 2024, Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN, Điều 7,8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 nên Ngân hàng HD yêu cầu ông L, bà D thanh toán số tiền lãi theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng là phù hợp, lãi quá hạn được tính kể từ ngày ông L, bà D vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tạm tính đến ngày 04/11/2025 ông L, bà D còn nợ ngân hàng tổng cộng là 2.371.071.014đ (bao gồm tiền gốc, tiền lãi quá hạn và lãi chậm trả). Do đó, công ty H yêu cầu ông L, bà D trả số tiền 2.371.071.014đ là có cơ sở đề nghị Tòa án chấp nhận.
Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 320 tờ bản đồ 14 xã L, hợp đồng thế chấp được công chứng vào ngày 02/3/2022 tại Văn phòng C1 và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định. Nếu ông L, bà D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ, công ty H yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm là phù hợp nên đề nghị ghi nhận.
- Về án phí: ông L, bà D chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
- Về quan hệ pháp luật: Công ty TNHH H khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông Bùi Phú L, bà Trần Thị Kim D phải trả cho Công ty TNHH H số tiền vay và lãi suất theo hợp đồng tín dụng. Vì vậy xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015.
- Về thẩm quyền thụ lý: Ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D có cùng địa chỉ cư trú tại: tổ G, ấp A, xã S, tỉnh Đồng Nai là người bị nguyên đơn khởi kiện nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 BLTTDS năm 2015.
- Về thủ tục tố tụng: Ngày 29/03/2025, ngân hàng TMCP P – Chi nhánh Sở G – Phòng G1 thực hiện bán nợ cho Công ty TNHH H và Công ty TNHH H ủy quyền cho ngân hàng TMCP P đại diện. Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H ủy quyền cho bà Phạm Thảo Phương V đại diện. Việc ủy quyền của các đương sự đúng theo quy định nên chấp nhận. Trong quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông L và bà D nhưng ông bà không đến làm việc. Tại buổi công khai chứng cứ và hòa giải ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã thực hiện thông báo kết quả phiên họp cho ông L và bà D theo quy định. Ngày 24/10/2025 Tòa án mở phiên tòa xét xử nhưng ông L, bà D vắng mặt nên Tòa án hoãn phiên tòa lần thứ nhất. Ngày 04/11/2025 Tòa án tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 BLTTDS năm 2015.
- Về nội dung: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:
4.1 Căn cứ Điều 92 BLTTDS năm 2015, xác định hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP P với ông Bùi Phú L, bà Trần Thị Kim D là có thật. Ngày 29 tháng 03 năm 2025, Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H tiến hành ký hợp đồng mua bán nợ số 0250.03/2025/HĐMBN/HD-HPW với bên mua nợ là Công ty TNHH H. Vì vậy việc Công ty TNHH H khởi kiện ông L, bà D yêu cầu trả các khoản nợ vay là đúng quy định.
4.2 Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho H1 đã được đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH H là có cơ sở nên chấp nhận. Tính đến ngày 04/11/2025, tổng số tiền ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D còn phải thanh toán cho H1 theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 21759/23MN/HĐTD ngày 24/08/2023; Hợp đồng tín dụng số: 8971/22MN/HĐTD ngày 02/03/2022 là 2.371.071.014₫ (Hai tỷ ba trăm bảy mươi mốt triệu không trăm bảy mươi mốt ngàn không trăm mười bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc: 1.999.973.622đ; Lãi trong hạn: 15.536.573đ; Lãi quá hạn: 355.560.819đ. Trong đó:
- + Số tiền ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D còn phải thanh toán theo 21759/23MN/HĐTD/KUNN02 ngày 13/11/2023 là: Nợ gốc là: 500.000.000đ; Lãi trong hạn là: 3.904.110đ; Lãi quá hạn: 88.893.113đ. Tổng cộng là : 592.797.223đ.
- + Số tiền ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D phải thanh toán theo Hợp đồng tín dụng số: 8971/22MN/HĐTD/KUNN03 ngày 13/11/2023 là: Nợ gốc là : 1.499.973.622đ; Lãi trong hạn: 11.632.463đ; Lãi quá hạn: 266.667.706đ. Tổng cộng là : 1.778.273.791₫.
Xét việc áp dụng tính lãi của Công ty TNHH H đối với hợp đồng hai bên đã ký kết phù hợp với quy định của Nghị quyết 01/2019/NQ - HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên chấp nhận.
4.3 Ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh kể từ ngày 05/11/2025 đối với số tiền nợ còn lại theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng; Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ; Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/ sản phẩm – dịch vụ mà ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Công ty TNHH H.
4.4 Để đảm bảo cho khoản vay trên ông Bùi Phú L, bà Trần Thị Kim D đã thế chấp tài sản bao gồm Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 619903, số vào sổ cấp GCN: CS 07946 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 24/02/2022. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng TMCP P theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 7580/22MN/HĐBĐ được Văn phòng C1 chứng nhận ngày 02/03/2022, số công chứng: 001466, quyển số 02/2022TP/CC-SCC/HĐGD; Hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng số: 7580/22MN/HĐBĐ/PL01 được Văn phòng C1 chứng nhận ngày 24/08/2023, số công chứng: 001916, quyển số 02/2023TP/CC-SCC/HĐGD; Đăng ký thế chấp tại Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Đ, chi nhánh C2 vào ngày 03/03/2022.
Tại biên bản xác minh ngày 11/9/2025 công an xã S đã xác định ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D có đăng ký thường trú tại ấp A, xã S, tỉnh Đồng Nai. Hiện nay đang sinh sống tại ấp A, xã S, tỉnh Đồng Nai.
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/9/2025 tại thời điểm xem xét thửa đất số 320, tờ bản đồ số 14 do bà Trần Thị Kim D đứng tên trên thửa đất thế chấp cho Ngân hàng H1 thì trên đất không có công trình xây dựng và chỉ có trồng một số cây măng cụt do ông L, bà D đang quản lý sử dụng.
Như vậy việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm của ông L, bà dung và H1 theo đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.
4.5 Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Công ty TNHH H thì Công ty có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi các tài sản đã thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Công ty TNHH H. Tài sản thế chấp là: toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 320 tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại địa chỉ: xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền số DĐ 619903, số vào số cấp GCN: CS 07946 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Tỉnh G cấp ngày 24/02/2022.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản được dùng để thanh toán khoản nợ của ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D với Công ty TNHH H. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D cho Công ty TNHH H thì ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D vẫn phải tiếp tục có nghĩa vụ trả hết toàn bộ khoản nợ cho Công ty TNHH H.
[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.000.000đ. Do yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận nên ông L, bà D phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.000.000đ. Công ty TNHH H ( đã nộp xong). Ông L, bà D có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Công ty TNHH H số tiền 4.000.000đ.
[6] Về án phí: Ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D phải nộp 79.421.420₫ án phí dân sự sơ thẩm. cụ thể tính như sau: [72.000.000 + (2.371.071.014₫ – 2.000.000.000 = 371.071.014đ x 2%) ] = 79.421.420đ. Hoàn trả cho Công ty H tiền tạm ứng án phí đã nộp là 38.113.000đ, theo biên lai thu tiền số 0013431 ngày 29/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
[7] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đồng Nai phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228 – Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Căn cứ Điều 357, 463, 465, 466, 468 và Điều 470 - Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Căn cứ Điều 90, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ - HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- - Căn cứ Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH H đối với ông Bùi Phú L, bà Trần Thị Kim D về việc yêu cầu trả nợ vay.
- Buộc ông Bùi Phú L và và Trần Thị Kim D có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Công ty TNHH H tổng số nợ tính đến ngày 04/11/2025 với tổng số tiền là 2.371.071.014₫ (Hai tỷ ba trăm bảy mươi mốt triệu không trăm bảy mươi mốt ngàn không trăm mười bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc: 1.999.973.622đ; Lãi trong hạn: 15.536.573đ; Lãi quá hạn: 355.560.819đ. Cụ thể:
- + Số tiền ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D còn phải thanh toán theo 21759/23MN/HĐTD/KUNN02 ngày 13/11/2023 là: Nợ gốc là: 500.000.000đ; Lãi trong hạn là: 3.904.110đ; Lãi quá hạn: 88.893.113đ. Tổng cộng là : 592.797.223đ.
- + Số tiền ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D phải thanh toán theo Hợp đồng tín dụng số: 8971/22MN/HĐTD/KUNN03 ngày 13/11/2023 là: Nợ gốc là : 1.499.973.622đ; Lãi trong hạn: 11.632.463đ; Lãi quá hạn: 266.667.706đ. Tổng cộng là : 1.778.273.791đ.
- Buộc ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ lãi tiếp tục phát sinh được quy định tại hợp đồng cho vay, kể từ ngày 05/11/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay cho Công ty TNHH H.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Công ty TNHH H thì Công ty có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi các tài sản đã thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Công ty TNHH H. Tài sản thế chấp là: toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 320 tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại địa chỉ: xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền số DĐ 619903, số vào số cấp GCN: CS 07946 do Sở Tài Nguyên và Môi trường Tỉnh G cấp ngày 24/02/2022.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản được dùng để thanh toán khoản nợ của ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D với Công ty TNHH H. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D cho Công ty TNHH H thì ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D vẫn phải tiếp tục có nghĩa vụ trả hết toàn bộ khoản nợ cho Công ty TNHH H.
- Về chi phí tố tụng: ông L, bà D có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Công ty TNHH H số tiền 4.000.000đ. ( Bốn triệu đồng)
- Về án phí: Ông Bùi Phú L và bà Trần Thị Kim D phải nộp 79.421.420đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty H tiền tạm ứng án phí đã nộp là 38.113.000đ, theo biên lai thu tiền số 0013431 ngày 29/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng các đương sự vắng mặt thì quyền kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phí Thị Hồng N |
Bản án số 76/2025/DS-ST ngày 04/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 76/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: , ông Bùi Phú Lâm và bà Trần Thị Kim Dung đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho HDBank mặc dù đã được đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Happy Winner là có cơ sở nên chấp nhận. Tính đến ngày 04/11/2025, tổng số tiền ông Bùi Phú Lâm và bà Trần Thị Kim Dung còn phải thanh toán cho HDBank theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 21759/23MN/HĐTD ngày 24/08/2023; Hợp đồng tín dụng số: 8971/22MN/HĐTD ngày 02/03/2022 là 2.371.071.014đ (Hai tỷ ba trăm bảy mươi mốt triệu không trăm bảy mươi mốt ngàn không trăm mười bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc: 1.999.973.622đ; Lãi trong hạn: 15.536.573đ; Lãi quá hạn: 355.560.819đ. Trong đó: + Số tiền ông Bùi Phú Lâm và bà Trần Thị Kim Dung còn phải thanh toán theo 21759/23MN/HĐTD/KUNN02 ngày 13/11/2023 là: Nợ gốc là: 500.000.000đ; Lãi trong hạn là: 3.904.110đ; Lãi quá hạn: 88.893.113đ. Tổng cộng là : 592.797.223đ. + Số tiền ông Bùi Phú Lâm và bà Trần Thị Kim Dung phải thanh toán theo Hợp đồng tín dụng số: 8971/22MN/HĐTD/KUNN03 ngày 13/11/2023 là: Nợ gốc là : 1.499.973.622đ; Lãi trong hạn: 11.632.463đ; Lãi quá hạn: 266.667.706đ. Tổng cộng là : 1.778.273.791đ.
