TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2024/KDTM-PT Ngày: 19-9-2024 V/v: “Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ về độc quyền sáng chế” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh
Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Toàn
Bà Lê Thúy Cầu
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 51/2022/TLPT-KDTM ngày 14/10/2022 về việc “Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ về độc quyền sáng chế”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 09/2022/KDTM-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5600/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Merck Sharp & Dohme C (US).
Địa chỉ: A E, R, N, Hoa Kỳ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mai Duy L, sinh năm: 1985. Có mặt
Địa chỉ: Tầng 1, Tòa nhà văn phòng Tổng Công ty G1, phường N, quận C, Thành phố Hà Nội (văn bản ủy quyền ngày 28/7/2016).
Ông L chỉ định bổ sung người đại diện theo ủy quyền: Ông Bạch Hoàng G, sinh năm: 1990 và bà Nguyễn Thị Anh T, sinh năm: 1984. Cùng địa chỉ liên hệ: Tầng 1, Tòa nhà văn phòng Tổng Công ty G1, phường N, quận C, Thành phố Hà Nội (theo văn bản ngày 20/10/2020)
Ông G có mặt, bà T vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Xuân L1 và ông Nguyễn Huy T1 là Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H - Công ty L3. Có mặt
· Bị đơn: Công ty TNHH D (nay là Công ty Cổ phần D)
Địa chỉ: Lô M, đường D, Khu công nghiệp M, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo ủy quyền:
+ Ông Vũ Tuấn L2, sinh năm: 1991. Địa chỉ liên hệ: Công ty TNHH D (nay là Công ty Cổ phần D), địa chỉ: Lô M, đường D, Khu công nghiệp M, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương (theo văn bản ủy quyền ngày 10/11/2020). Có mặt
+ Bà Từ Thị Hồng H, sinh năm: 1994; địa chỉ: Tầng E, Tòa nhà H, số A, N Kon Tum, phường N, quận T, Hà Nội (văn bản ủy quyền ngày 27/4/2022). Vắng mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nhâm Mạnh H1 là Luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố H - Công ty L4. Có mặt.
Địa chỉ: Tầng E, Tòa nhà H, số A, N Kon Tum, phường N, quận T, Hà Nội.
-Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Cổ phần D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đã được hợp pháp hóa lãnh sự ngày 07/9/2016, đơn sửa chữa bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 05/5/2017 (Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương nhận 02 đơn cùng ngày 15/5/2017) và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn M (US) (sau đây viết tắt là MSD) và người đại diện theo ủy quyền, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:
MSD hiện đang sở hữu rất nhiều Bằng độc quyền sáng chế (sau đây viết tắt là BĐQSC) trên toàn cầu. Sitagliptin và các đối tượng được bảo hộ sáng chế liên quan là một trong số những sáng chế quan trọng nhất của MSD. Sitagliptin được cấp phép bởi Cục Q vào ngày 17 tháng 10 năm 2006. Sitagliptin góp phần thiết yếu trong việc điều trị bệnh tiểu đường typ 2 vì nó ít có tác dụng phụ trong việc kiểm soát lượng đường trong máu. Sitagliptin thường được bán trên thị trường dưới tên thương phẩm, nhãn hiệu Januvia® và J. Tại Việt Nam J và J đã nhận được giấy phép và đưa vào thị trường để điều trị bệnh tiểu đường typ 2 từ năm 2012.
Tại Việt Nam, MSD cũng là chủ sở hữu của nhiều BĐQSC liên quan đến Sitagliptin, bao gồm nhưng không giới hạn ở BĐQSC số 7037. BĐQSC số 7037 được cấp ngày 05/5/2008, có hiệu lực đến ngày 18/6/2024 bảo hộ cho, trong những đối tượng khác, S, muối dihydrophosphat của 4-oxo-4-[3-(triflometyl)-5,6-dihydro[1,2,4]triazolo[4,3-alphapyrazin-7(8H)-yl]-1-(2,4,5-triflophenyl) butan-2-amin, dược chất và dược phẩm chứa muối này, quy trình điều chế hợp chất này và việc sử dụng để điều trị bệnh đái tháo đường typ 2.
Sáng chế được bảo hộ theo BĐQSC nêu trên được MSD sử dụng cho sản phẩm thuốc mang tên thương phẩm, nhãn hiệu Januvia®, Janumet® chứa hợp chất Sitagliptin phosphat monohydrat.
Theo quy định của pháp luật, MSD có độc quyền sử dụng và ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế đang được bảo hộ (Điều 125.1 Luật Sở hữu trí tuệ). Phạm vi quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế được quy định rõ tại Điều 124.1 Luật Sở hữu trí tuệ, theo đó sử dụng sáng chế bao gồm nhưng không giới hạn bởi việc sản xuất, nhập khẩu, khai thác công dụng, lưu thông, bán, vận chuyển, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm được bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ.
Căn cứ theo quy định tại Điều 126.1 Luật Sở hữu trí tuệ, trong thời gian BĐQSC có hiệu lực, mọi hành vi sử dụng sáng chế đang được bảo hộ của MSD mà không được phép của MSD với tư cách là chủ sở hữu được coi là hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế.
Tháng 9 năm 2014, nguyên đơn phát hiện các sản phẩm thuốc của bị đơn có tên gọi Zlatko-100 và Z đã được cấp số lưu hành lần lượt là VD-21483-14 và VD-21484-14. Cả hai sản phẩm Zlatko-100 và Zlatko-50 đều có chứa hợp chất chính là Sitagliptin phosphat monohydrat thuộc phạm vi bảo hộ của BĐQSC số 7037.
Ngày 17 tháng 9 năm 2014, MSD thông qua Công ty L3 đã gửi một thư cảnh báo tới bị đơn để tìm kiếm một sự hợp tác thiện chí trong việc rút bỏ các giấy phép lưu hành thuốc của các sản phẩm Zlatko-100 và Zlatko-50. Tuy nhiên, bị đơn đã không trả lời.
Ngày 22 tháng 10 năm 2014, Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ Việt Nam ra Kết luận giám định số SC008-14YC/KLGD với nội dung khẳng định sản phẩm thuốc chứa hợp chất Sitagliptin phosphate monohydrate-cũng chính là hoạt chất của sản phẩm thuốc Zlatko-100 và Zlatko-50 là trùng lặp đối với sáng chế số 7037 đang được bảo hộ của Công ty M1.
Ngày 14 tháng 01 năm 2015, nguyên đơn thông qua Công ty L3 đã đề nghị Thanh tra Bộ K và Công nghệ, cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm về sở hữu trí tuệ, để tiến hành xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế.
Thanh tra Bộ K và Công nghệ, đã tiến hành thanh tra bị đơn tại trụ sở chính. Trong quá trình thanh tra, Tổ Thanh tra đã ghi nhận như sau:
- Bị đơn đã sản xuất 590 hộp Zlatko-50 vào ngày 23 tháng 10 năm 2014. Trong các sản phẩm đó, bị đơn đã bán 290 hộp cho Công ty Cổ phần G2. 290 hộp khác đang được lưu giữ tại văn phòng đại diện của bị đơn tại Thành phố Hồ Chí Minh. 10 hộp còn lại được giữ làm mẫu;
- Nguyên liệu thô chưa sử dụng bao gồm 48,7kg Sitagliptin; 36,45kg giấy nhôm Zlatko-100, 32,2kg giấy nhôm Zlatko-50, 12.300 vỏ hộp Zlatko-100; 13.350 vỏ hộp Zlatko-50 và 9.800 toa hướng dẫn sử dụng.
Biên bản Thanh tra đề ngày 30 tháng 01 năm 2015 của Thanh tra Bộ K đã kết luận rằng bị đơn đã xâm phạm quyền đối với BĐQSC số 7037 (và các sáng chế có liên quan) do đã sản xuất và phân phối các sản phẩm Zlatko. Tổ Thanh tra chuyên ngành sở hữu trí tuệ cũng yêu cầu bị đơn:
- Chấm dứt việc sản xuất và phân phối các sản phẩm Zlatko-50 và Zlatko-100;
- Thu hồi các sản phẩm Zlatko-50 mà bị đơn đã đưa ra thị trường;
- Chủ động rút các số đăng ký lưu hành thuốc của Zlatko-50 và Zlatko-100;
- Chủ động liên hệ với MSD để giải quyết vụ việc;
- Tiếp tục làm việc với cơ quan Thanh tra khi được triệu tập.
Ngày 20 tháng 3 năm 2015, Chánh Thanh tra Bộ K và Công nghệ đã ra Kết luận Thanh tra số 113/KL-TTra. Theo đó, Chánh Thanh tra đã kết luận rõ ràng rằng việc sản xuất và phân phối các sản phẩm thuốc Zlatko có chứa hợp chất Sitagliptin của bị đơn đã xâm phạm quyền đối với BĐQSC số 7037 (và các sáng chế có liên quan) đang được bảo hộ của MSD theo quy định tại điều 126 Luật Sở hữu trí tuệ. Vì vậy, Chánh Thanh tra có quyền xử phạt bị đơn theo quy định tại Điều 10 Nghị định 99/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, nhận thấy thái độ hợp tác của bị đơn trong vụ việc, Chánh Thanh tra đã hoãn việc ra quyết định xử phạt bị đơn. Tuy nhiên, Chánh Thanh tra yêu cầu bị đơn phải:
- Ngay lập tức dừng việc sản xuất, phân phối và quảng cáo Z và Zlatko-50;
- Tiêu hủy 290 hộp Zlatko-50 đang lưu giữ tại công ty cộng với các sản phẩm thu hồi được trên thị trường; 36,45kg giấy nhôm Zlatko-100; 12.300 vỏ hộp Zlatko-100; 32,2kg giấy nhôm Zlatko-50; 13.350 vỏ hộp Zlatko-50; 9.800 toa hướng dẫn sử dụng;
- Tái xuất khẩu 48,7kg nguyên liệu thô Sitagliptin ra khỏi lãnh thổ Việt Nam dưới sự chứng kiến của cơ quan chức năng và đại diện của MSD.
Chánh Thanh tra đã đặt ra thời hạn 07 ngày kể từ ngày bị đơn nhận được Kết luận Thanh tra để thực hiện các yêu cầu nêu trên. Tuy nhiên, cho đến nay, bị đơn vẫn chưa thực hiện bất kỳ yêu cầu nào nêu trên.
Dựa trên kết luận ràng buộc về mặt pháp lý của Chánh Thanh tra Bộ K và Công nghệ, các hành vi sản xuất, tàng trữ và buôn bán các sản phẩm thuốc Zlatko chứa hợp chất Sitagliptin, bất kể chúng được thực hiện trước hay sau ngày ra Kết luận Thanh tra, thì đều là xâm phạm quyền đối với BĐQSC số 7037 đang được bảo hộ của nguyên đơn.
Trong buổi thanh tra ngày 30 tháng 01 năm 2015 được nêu ở trên, bị đơn đã thừa nhận hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế. Theo đó, bị đơn đã tự nguyện cam kết rằng:
- Chấm dứt việc sản xuất, quảng cáo và phân phối các sản phẩm thuốc vi phạm Zlatko-100 và Zlatko-50;
- Ra quyết định thu hồi tất cả sản phẩm thuốc vi phạm Zlatko-50 trên thị trường;
- Rút số đăng ký lưu hành thuốc của Zlatko-100 và Z tại Cục Q1 không muộn hơn ngày 06 tháng 02 năm 2015.
Sự thừa nhận và cam kết của bị đơn được ghi nhận rõ ràng trong Biên bản Thanh tra đề ngày 30 tháng 01 năm 2015.
Vào ngày 04 tháng 02 năm 2015 tại Văn phòng của cơ quan Thanh tra Bộ K, bị đơn cũng đã cam kết sẽ tuân thủ nghiêm túc yêu cầu của cơ quan chức năng cũng như các cam kết của họ. Tuy nhiên, cho tới nay, bị đơn vẫn chưa thực hiện các cam kết. Theo nguyên đơn, bị đơn đã phá vỡ các cam kết của mình khi họ tiếp tục xâm phạm BĐQSC số 7037 như được nêu trên.
Công ty Cổ phần T3 đã thắng gói thầu để cung cấp 1.000 viên Zlatko 100mg với giá 15.960 đồng một viên và 98.000 viên Zlatko 50mg với giá 9.177 đồng một viên cho Sở Y trong giai đoạn 2015 và 2016. Các sản phẩm thuốc này được sản xuất bởi chính bị đơn.
Theo quy định hiện hành, Sở Y sẽ sớm ký một hợp đồng nguyên tắc với Công ty T3 về việc cung cấp sản phẩm thuốc vi phạm Zlatko. Tiếp theo đó, các cơ sở chữa bệnh công lập của tỉnh Thanh Hóa sẽ đàm phán và ký hợp đồng mua sản phẩm thuốc với công ty này. Tại thời điểm hiện tại, bị đơn tự nhận là đang chuẩn bị sản xuất các sản phẩm vi phạm Zlatko để đáp ứng lại gói thầu của Công ty Cổ phần T3.
Hơn nữa, cùng với việc không rút số đăng ký lưu hành thuốc của Zlatko-100 và Zlatko-50 theo các cam kết, bị đơn đã nộp đơn đăng ký lưu hành thuốc cho Zlatko-25. Ngày 17 tháng 12 năm 2015, Cục Q1 bằng Quyết định số 662/QĐ-QLD đã cấp số đăng ký lưu hành thuốc số VD-23924-15 cho sản phẩm Zlatko-25 của bị đơn.
Theo quan điểm của nguyên đơn, việc bị đơn chào bán và sản xuất các sản phẩm vi phạm Z1 cũng như là việc nộp đơn đăng ký lưu hành thuốc cho sản phẩm mới (tức là Z) cho thấy sự không tôn trọng các yêu cầu của cơ quan chức năng cũng như vi phạm nghiêm trọng các cam kết của họ, gây ra các thiệt hại vật chất không thể bù đắp và định lượng được cho nguyên đơn với tư cách là chủ sở hữu BĐQSC. Các thiệt hại trên bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập và lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh cũng như các chi phí khác mà nguyên đơn phải gánh chịu để ngăn chặn và khắc phục thiệt hại.
Tất cả thuốc Zlatko được sản xuất bởi bị đơn đã được các cơ quan chức năng kết luận là xâm phạm quyền đối với BĐQSC số 7037. Các sản phẩm này không đáp ứng các điều kiện để được coi là phân phối trên thị trường với mục đích phi thương mại theo quy định tại Điều 30.1 Nghị định 105/2006/NĐ-CP, được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 119/2010/NĐ-CP. Như vậy, theo quy định tại Điều 202.5 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 29.1 và 31 Nghị định 105/2006/NĐ-CP, tất cả thuốc Zlatko, nguyên liệu thô Sitagliptin, và tất cả các nguyên liệu khác cũng như phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất và buôn bán thuốc Zlatko, bao gồm nhưng không giới hạn ở giấy nhôm, toa hướng dẫn sử dụng, vỏ hộp, tài liệu quảng cáo,.v.v.. phải bị tiêu hủy dưới sự chứng kiến của nguyên đơn cũng như là các cơ quan chức năng.
Căn cứ theo Điều 13.1 và 2 của Thông tư 44/2014/TT-BYT về đăng ký thuốc, bị đơn phải chịu mọi trách nhiệm về các quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến các thuốc đã đăng ký. Cả ba loại thuốc Zlatko của bị đơn, cụ thể là Z2, Z và Zlatko-100, chứa hợp chất S đã được bảo hộ bởi BĐQSC số 7037. Như vậy, theo quy định tại các Điều 13 và 32.6 của Thông tư 44/2014 / TT-BYT, bị đơn phải rút các số đăng ký lưu hành thuốc của Zlatko-100 (VD-21483-14), Zlatko-50 (VD-21484-14) và Z3 (VD-23924-15) từ Cục Q1 thuộc Bộ Y1.
Ngoài ra, Kết luận thanh tra số 113/KL-TTra ngày 30/3/2015 đã được Thanh tra Bộ K và Công nghệ giải quyết khiếu nại của bị đơn bởi Quyết định số 25/QĐ-TTra ngày 11/4/2019 của Chánh Thanh tra Bộ K và Công nghệ giải quyết bác đơn khiếu nại của Công ty D.
Các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bao gồm:
- Yêu cầu bị đơn chấm dứt tất cả các hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, bao gồm nhưng không giới hạn ở việc nhập khẩu, sản xuất, khai thác, lưu thông, buôn bán, vận chuyển, quảng cáo, chào báo và lưu trữ để lưu thông sản phẩm xâm phạm quyền đối với các BĐQSC số 7037 và 5684 của nguyên đơn (căn cứ theo Điều 201.1 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 – sau đây viết tắt là Luật Sở hữu trí tuệ);
- Yêu cầu bị đơn bồi thường cho nguyên đơn 500.000.000 đồng theo các Điều 202.4, 204 và 205 Luật Sở hữu trí tuệ, khoản bồi thường này có thể tăng tương ứng với các tổn thất được nêu ra bên dưới và các bằng chứng có thể được cung cấp thêm bởi nguyên đơn;
- Yêu cầu bị đơn thu hồi trên thị trường tất cả các sản phẩm thuốc Zlatko hoặc các sản phẩm thuốc khác mà xâm phạm quyền đối với các BĐQSC số 7037 và số 5684 (Căn cứ Điều 202.1 Luật Sở hữu trí tuệ);
- Yêu cầu bị đơn thanh toán khoản chi phí hợp lý trị giá 300.000.000 đồng mà nguyên đơn đã bỏ ra để thuê luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nhằm chống lại hành vi xâm phạm quyền (căn cứ theo Điều 202 và 205.3 Luật Sở hữu trí tuệ);
- Yêu cầu bị đơn xin lỗi và cải chính công khai nguyên đơn trên tạp chí Dược và Mỹ phẩm, tạp chí Khoa học và Đời sống và đăng trên ba kỳ liên tiếp của B1 về các hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế (Căn cứ Điều 202.2 Luật Sở hữu trí tuệ);
- Yêu cầu bị đơn tiêu hủy, dưới sự chứng kiến của nguyên đơn, tất cả các sản phẩm xâm phạm còn trong kho cũng như các nguyên liệu thô, vật liệu và máy móc được sử dụng chủ yếu để sản xuất và/hoặc buôn bán sản phẩm thuốc có tên Z1 xâm phạm quyền đối với các BĐQSC số 7037 và 5684 (Căn cứ điều 202.5 Luật Sở hữu trí tuệ);
- Bị đơn phải rút các số đăng ký lưu hành thuốc cho các sản phẩm vi phạm tại Cục Q1. Yêu cầu bị đơn không được đăng ký tại Cục Q1 bất kỳ sản phẩm thuốc nào chứa các hợp chất và/hoặc hợp chất dược phẩm được bảo hộ trong thời hạn của các BĐQSC số 7037 và số 5684.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện bao gồm: Bản sao chứng thực BĐQSC số 7037 được Cục Sở hữu trí tuệ cấp ngày 05/5/2008 theo Quyết định số 8018/QĐ-SHTT có hiệu lực từ ngày 08/6/2004 đến ngày 08/6/2024 và số 5684 được Cục Sở hữu trí tuệ cấp ngày 02/6/2006 theo Quyết định số A5108/QĐ-ĐK có hiệu lực từ ngày 05/7/2002 đến ngày 05/7/2022; Kết luận giám định số SC008-14YC/KLGD ngày 22/10/2014 của V; Biên bản thanh tra đề ngày 30/01/2015; Kết luận thanh tra số 113/KL-TTra ngày 20/3/2015 của Thanh tra Bộ K và Công nghệ; Quyết định giải quyết khiếu nại số 25/QĐ-TTra ngày 11/4/2019 của Chánh thanh tra Bộ K và Công nghệ về việc giải quyết khiếu nại của Công ty D đối với Kết luận thanh tra số 113/KL-TTra.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty TNHH D nay là Công ty Cổ phần D (sau đây viết tắt là Công ty D) trình bày: Công ty D được thành lập và hoạt động từ năm 2004, trong suốt quá trình hoạt động, sản xuất kinh doanh Công ty luôn tuân thủ, chấp hành quy định pháp luật. Các sản phẩm thuốc Zlatko trong suốt quá trình nghiên cứu, sản xuất và lưu hành trên thị trường luôn được công ty thực hiện đầy đủ, nghiêm ngặt thủ tục pháp lý theo quy định của pháp luật. Để sản xuất và lưu hành công ty T4 thông tin sáng chế liên quan đến hoạt chất Sitagliptin trên cơ sở dữ liệu sáng chế được công bố bởi Cục Sở hữu trí tuệ. Kết quả tra cứu không tìm được thông tin liên quan chỉ dẫn trực tiếp đến tên hoạt chất S đã được bảo hộ tại Việt Nam dưới hình thức sáng chế/giải pháp hữu ích. Do đó, công ty đã tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật để đăng ký lưu hành cho sản phẩm của mình và đều đã được Cục Q1 – Bộ Y1 cấp phép lưu hành cho các sản phẩm thuốc Zlatko.
Về bản chất của sản phẩm Zlatko của Công ty D: Thành phần chính trong các sản phẩm thuốc mang tên Z1 của Công ty là hoạt chất Sitagliptin (dạng Sitagliptin phosphate monohydrate - Sitagliptin phosphate monohydrate tồn tại dưới dạng tinh thể) với các dải hấp thụ đặc trưng thu được từ mẫu nhiễu xạ bột tia X đặc trưng ở các khoảng cách d trong phổ lần lượt là 7,54A°, 5,55A°; 3,99A°, 4,79A° và 4,53A, 5,87A°, 5,27A° và 3,57A°. Bản chất kỹ thuật của hoạt chất Sitagliptin (dạng Sitagliptin phosphate monohydrate tinh thể) là thành phần chính trong các sản phẩm dược phẩm mang nhãn hiệu Zlatko-100, Zlatko-50 đã được Cục Q1 – Bộ Y1 cấp số đăng ký lưu hành theo Quyết định số 437/QĐ-QLD ngày 12/8/2014; Zlatko-25 là theo Quyết định số 662/QĐ-QLD ngày 17/12/2015. Phạm vi bảo hộ của các điểm 15, 16, 18 BĐQSC số 5684 và điểm 1 thuộc BĐQSC số 7037 của nguyên đơn không bảo hộ cho hoạt chất Sitagliptin phosphate monohydrate tồn tại dưới dạng tinh thể. Mặt khác, tại Kết luận giám định số SC008-14YC/KLGĐ ngày 22/10/2014 của V khẳng định rằng “theo yêu cầu của người nộp đơn, việc đánh giá khả năng trùng hoặc tương đương cần được tiến hành với các điểm yêu cầu bảo hộ tại điểm 4 là đặc điểm về cấu trúc phân tử của hợp chất (dạng tinh thể), do đó cần phải xác định dạng cấu trúc phân tử của đối tượng bị xem xét tương ứng thì mới đánh giá được là trùng/tương đương, nhưng vì người nộp đơn không cung cấp mẫu vật mà chỉ cung cấp tên của hợp chất nên không thể xác định được dạng cấu trúc phân tử của đối tượng bị xem xét”. Do vậy, các sản phẩm Zlatko của bị đơn là hoàn toàn độc lập và không nằm trong phạm vi bảo hộ của các điểm 15, 16, 18 BĐQSC số 5684 và điểm 1 thuộc BĐQSC số 7037 của nguyên đơn. Các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ, đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 09/2022/KDTM-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Căn cứ khoản 2 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 161, 235, 264, 266, 271, 273, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 6, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ khoản 1 Điều 123, khoản 1 Điều 124, khoản 1 Điều 125, khoản 1 Điều 126, Điều 201, Điều 202, Điều 204, Điều 205 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009; các Điều 16, 20 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ; Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:
- Tuyên bố hành vi sản xuất, kinh doanh các dược phẩm, bao gồm thuốc Zlatko - 25, Z1 - 50 và Zlatko 100 của Công ty Cổ phần D chứa dược chất Sitagliptin phosphat minohydrat là yếu tố xâm phạm quyền đối với Sáng chế được bảo hộ theo các điểm yêu cầu bảo hộ 15, 16 và 18 thuộc Bằng độc quyền sáng chế số 5684 của M (US); và là yếu tố xâm phạm quyền đối với Sáng chế được bảo hộ theo các điểm yêu cầu bảo hộ 1 và 2 thuộc Bằng độc quyền sáng chế số 7037 của M & Dohme C (US).
- Áp dụng các biện pháp dân sự đối với Công ty Cổ phần D như sau:
- Buộc Công ty Cổ phần D phải chấm dứt tất cả các hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, bao gồm nhưng không giới hạn ở việc nhập khẩu, sản xuất, khai thác, lưu thông, buôn bán, vận chuyển, quảng cáo, chào bán và lưu trữ để lưu thông sản phẩm xâm phạm quyền đối với B độc quyền sáng chế số 7037 của M Corp. (US).
- Công ty Cổ phần D phải bồi thường cho Merck S1 & Dohme C (US) các khoản sau:
- - Bồi thường thiệt hại: 500.000.000 đồng.
- - Thanh toán khoản chi phí 300.000.000 đồng để thuê luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Merck S1 & Dohme C (US).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thanh toán số tiền trên thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Buộc Công ty Cổ phần D phải công khai xin lỗi Merck Sharp & Dohme C (US) trên B1 trong 3 số liên tiếp với nội dung ghi rõ: Công ty Cổ phần D đã có hành vi vi phạm khi sản xuất và cho lưu thông trên thị trường thuốc Zlatko - 25, Zlatko - 50 và Z1 – 100 có chứa dược chất Sitagliptin phosphat minohydrat là yếu tố xâm phạm quyền đối với Sáng chế được bảo hộ theo Bằng độc quyền sáng chế số 5684 và số 7037 của Merck S1 & Dohme C (US). Công ty Cổ phần D phải cam kết không tiếp tục vi phạm. Chi phí đăng báo xin lỗi do Công ty Cổ phần D chịu.
- Kiến nghị Cục Q1 – Bộ Y1 thu hồi/hủy bỏ số đăng ký lưu hành thuốc Zlatko-100 (VD-21483-14), Zlatko-50 (VD-21484-14) và Zlatko-25 (VD-23924-15) cho Công ty Cổ phần D theo Quyết định số 437/QĐ-QLD ngày 12/8/2014 và Quyết định số 662/QĐ-QLD ngày 17/12/2015; và không cho đăng ký bất kỳ sản phẩm thuốc nào chứa các hợp chất và/hoặc hợp chất dược phẩm được bảo hộ trong thời hạn của Bằng độc quyền sáng chế số 7037 của Merck S1 & Dohme C (US).
- Không chấp nhận các yêu cầu sau của Merck S1 & Dohme Corp. (US): Yêu cầu về việc tiêu hủy, dưới sự chứng kiến của Merck S1 & Dohme C (US), tất cả các sản phẩm xâm phạm còn trong kho cũng như các nguyên liệu thô, vật liệu và máy móc được sử dụng chủ yếu để sản xuất và/hoặc buôn bán sản phẩm thuốc có tên Z1 xâm phạm quyền đối với các Bằng độc quyền sáng chế số 7037 và số 5684; Yêu cầu về việc buộc Công ty Cổ phần D phải thu hồi trên thị trường tất cả các sản phẩm thuốc Zlatko đã xâm phạm quyền đối với các Bằng độc quyền sáng chế số 7037 và số 5684.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 29/7/2022, bị đơn Công ty Cổ phần D có đơn kháng cáo với nội dung Toà án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, không xem xét khách quan, toàn diện hồ sơ vụ án nên đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ Bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử lại.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nhất trí với Bản án sơ thẩm, tuy nhiên đến thời điểm hiện nay BĐQSC 7037 hết hiệu lực đề nghị Tòa tuyên lại một số nội dung cho phù hợp. Còn giữ nguyên nội dung bồi thường thiệt hại.
Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị huỷ toàn bộ Bản án sơ thẩm, tuy nhiên những vấn đề về tố tụng đã được khắc phục nên bị đơn thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại vấn đề yêu cầu bồi thường thiệt hại và cách tuyên về cấm tiếp tục vi phạm.
Luật sư bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn phát biểu: Về nội dung bồi thường thiệt hại thì theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn bồi thường mức cao nhất 500.000.000 đồng là có căn cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:
Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án và xem xét đơn kháng cáo của bị đơn, đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm phát biểu đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn sửa một phần Bản án sơ thẩm về nội dung công khai xin lỗi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[2] Về tố tụng:
- Đơn kháng cáo của bị đơn đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên xác định là hợp lệ. Vì vậy, kháng cáo của bị đơn được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ tranh chấp theo quy định tại các khoản 2 Điều 30 Bộ luật tố dụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, thấy rằng:
[3.1] Công ty M2 (MSD) được Cục sở hữu trí tuệ cấp các bằng độc quyền sáng chế sau: Bằng độc quyền sáng chế số 5684 cấp ngày 02/6/2006 theo Quyết định số A5108/QĐ-ĐK có hiệu lực từ ngày 05/7/2002 đến ngày 05/7/2022, bảo hộ đối với Sáng chế: Hợp chất Beta-A(1,2-A)Pyrazin và T2(4,3-A)Pyrazin để sử dụng làm chất ức chế Dipeptidyl Peptidaza, dược phẩm chứa chúng và ứng dụng của chúng. Bằng độc quyền sáng chế số 7037 cấp ngày 05/5/2008 theo Quyết định số 8018/QĐ-SHTT có hiệu lực từ ngày 18/6/2004 đến ngày 18/6/2024, bảo hộ đối với Sáng chế: Muối Axit Phosphoric của chất ức chế Pipeptidyl Peptidaza-IV, quy trình điều chế dược phẩm chứa chúng và ứng dụng của chúng. Các bằng độc quyền sáng chế bảo hộ sáng chế đối với hợp chất nêu trên là thành phần chính được dùng để sản xuất thuốc trị bệnh tiểu đường typ 2. Căn cứ Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ thì Merck S1 & D1 có các quyền theo quy định tại Điều 123 Luật sở hữu trí tuệ.
[3.2] Công ty D được Cục Q1 - Bộ Y1 cấp giấy phép lưu hành tại Quyết định số 437/QĐ-QLD ngày 12/8/2014 đối với thuốc Zlatko-50 và Zlatko-100, cấp giấy phép lưu hành tại Quyết định số 662/QĐ-QLD ngày 17/12/2015 đối với thuốc Zlatko - 25.
[3.3] Theo Biên bản thanh tra ngày 30/10/2015, biên bản làm việc ngày 04/02/2015 và Kết luận số 113/KL-TTra ngày 20/3/2015 của Thanh tra Bộ K đã kết luận: Công ty D có hành vi xâm phạm quyền sáng chế của M2 và Công ty D thừa nhận vi phạm như nội dung biên bản, ký tên đóng dấu của Công ty D vào biên bản vi phạm do Thanh tra Bộ K và Công nghệ lập.
[3.4] Theo Kết luận giám định về sở hữu công nghiệp số 01-2021/KLGĐ ngày 16/6/2021 do Giám định viên độc lập Phạm Phi A (Thẻ Giám định viên số 03/TGĐV do Cục S2 trí tuệ cấp theo Quyết định số 1236/QĐ-SHTT ngày 24/6/2009 của Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ) đối với mẫu thuốc Zlatko - 50 do Nhà thuốc tư nhân Minh C cung cấp với kết luận: Thuốc Zlatko - 50 chứa dược chất Sitagliptin phosphat monhydrat là yếu tố xâm phạm quyền đối với Sáng chế được bảo hộ theo các điểm yêu cầu bảo hộ 15, 16 và 18 thuộc BĐQSC số 5684 của Merck Sharp & D; và là yếu tố xâm phạm quyền đối với Sáng chế được bảo hộ theo các điểm yêu cầu bảo hộ 1 và 2 thuộc BĐQSC số 7037 của M Corp. Kết luận giám định về sở hữu công nghiệp số 01-2022/KLGĐ ngày 08/4/2022 do Giám định viên độc lập Phạm Phi A đối với 3 mẫu thuốc Zlatko - 25, Zlatko - 50 và Zlatko - 100 do nguyên đơn thu thập được ngoài thị trường một cách ngẫu nhiên, có xác nhận bằng vi bằng của Văn phòng Thừa phát lại quận 10 Thành phố H, với kết luận: Thuốc Zlatko - 25, Z - 50 và Z1 – 100 chứa dược chất Sitagliptin phosphat minohydrat là yếu tố xâm phạm quyền đối với Sáng chế được bảo hộ theo các điểm YCBH 15, 16 và 18 thuộc BĐQSC số 5684 của Merck Sharp & D; và là yếu tố xâm phạm quyền đối với Sáng chế được bảo hộ theo các điểm YCBH 1 và 2 thuộc BĐQSC số 7037 của M Corp.
[3.5] Căn cứ kết luận giám định nêu trên thì đủ cơ sở kết luận: Đối với bằng độc quyền sáng chế số 5684 thì hoạt chất Sitagliptin (dạng Sitagliptinphosphat minohydrat) trong sản phẩm thuốc Zlatko - 100, Z1 - 50 và Zlatko – 25 của Công ty D sản xuất đã trùng lặp với sáng chế bảo hộ tại điểm 15, 16 và 18 thuộc bằng độc quyền sáng chế số 5684 và đối với bằng độc quyền sáng chế số 7037 thì hoạt chất Sitagliptin (dạng Sitagliptinphosphat minohydrat) trong sản phẩm thuốc Zlatko - 100, Z1 - 50 và Zlatko – 25 của Công ty D sản xuất đã trùng lặp với sáng chế bảo hộ tại điểm 1 và điểm 2 thuộc bằng độc quyền sáng chế số 7037 của của Merck S1 & Dohme Corp.
[3.6] Như vậy, Công ty D tàng trữ, sản xuất, lưu thông, buôn bán, quảng cáo, chào hàng sản phẩm thuốc Zlatko - 100, Zlatko - 50 và Z1 – 25 có chứa hoạt chất Sitagliptin (dạng Sitagliptinphosphat minohydrat) đang được bảo hộ tại bằng độc quyền sáng chế số 5684, 7307 của Merck Sharp & Dohme Corp là hành vi sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, xâm phạm về quyền đối với sáng chế của Merck S1 & Dohme Corp được quy định tại khoản 1 Điều 124 và khoản 1 Điều 126 Luật sở hữu trí tuệ. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố hành vi sản xuất, kinh doanh các dược phẩm, bao gồm thuốc Zlatko - 25, Z1 - 50 và Zlatko 100 của Công ty Cổ phần D chứa dược chất Sitagliptin phosphat minohydrat là yếu tố xâm phạm quyền đối với Sáng chế được bảo hộ theo các điểm yêu cầu bảo hộ 15, 16 và 18 thuộc Bằng độc quyền sáng chế số 5684 của M (US); và là yếu tố xâm phạm quyền đối với Sáng chế được bảo hộ theo các điểm yêu cầu bảo hộ 1 và 2 thuộc Bằng độc quyền sáng chế số 7037 của Merck S1 & Dohme Corp. (US) là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3.7] Tuy nhiên, Bằng độc quyền sáng chế số 7037 của M Corp. (US) đến ngày 18/6/2024 là hết hiệu lực vì vậy cần sửa lại cách tuyên trong bản án phúc thẩm về việc xâm phạm Bằng độc quyền sáng chế số 7037 của Merck S1 & Dohme C (US) và không đặt ra vấn đề buộc Công ty Cổ phần D phải chấm dứt tất cả các hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, bao gồm nhưng không giới hạn ở việc nhập khẩu, sản xuất, khai thác, lưu thông, buôn bán, vận chuyển, quảng cáo, chào bán và lưu trữ để lưu thông sản phẩm xâm phạm quyền đối với B độc quyền sáng chế số 7037 của M Corp. (US).
[3.8] Về buộc công khai xin lỗi: Do bị đơn xâm phạm Bằng độc quyền sáng chế số 7037 nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn công khai xin lỗi là đúng nhưng tuyên cụ thể công khai xin lỗi trên B1 là chưa phù hợp. Do Bằng độc quyền sáng chế số 7037 của M (US) đã hết hiệu lực vào ngày 18/6/2024 nên cần sửa lại cách tuyên trong bản án phúc thẩm, Buộc Công ty Cổ phần D phải công khai xin lỗi Merck Sharp & Dohme Corp. (US) trên B2 trong 3 số liên tiếp với nội dung ghi rõ: Công ty Cổ phần D đã có hành vi vi phạm khi sản xuất và cho lưu thông trên thị trường thuốc Zlatko - 25, Zlatko - 50 và Z1 – 100 có chứa dược chất Sitagliptin phosphat minohydrat là yếu tố xâm phạm quyền đối với Sáng chế được bảo hộ theo Bằng độc quyền sáng chế số 5684 và số 7037 của M (US) (trong khoảng thời gian từ ngày 18/6/2004 đến ngày 18/6/2024) và không cần thiết kiến nghị Cục Q1 – Bộ Y1 thu hồi/hủy bỏ số đăng ký lưu hành thuốc Zlatko-100 (VD-21483-14), Zlatko-50 (VD-21484-14) và Zlatko-25 (VD-23924-15) cho Công ty Cổ phần D theo Quyết định số 437/QĐ-QLD ngày 12/8/2014 và Quyết định số 662/QĐ-QLD ngày 17/12/2015; và không cho đăng ký bất kỳ sản phẩm thuốc nào chứa các hợp chất và/hoặc hợp chất dược phẩm được bảo hộ trong thời hạn của Bằng độc quyền sáng chế số 7037 của Merck S1 & Dohme C (US).
[3.9] Về bồi thường thiệt hại:
[3.9.1] Đối với khoản chi phí mà nguyên đơn thuê dịch vụ pháp lý; căn cứ vào hợp đồng và các hóa đơn hợp pháp thể hiện nguyên đơn phải chi trả cho dịch vụ pháp lý 300.000.000 đồng, do đó Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả khoản tiền này cho nguyên đơn là có căn cứ.
[3.9.2] Đối với khoản tiền bồi thường thiệt hại 500.000.000 đồng: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, phía nguyên đơn không đưa ra được các tài liệu, chứng cứ thể hiện thiệt hại thực tế của nguyên đơn do hành vi xâm phạm bằng độc quyền sáng chế gây ra, mà các thiệt hại phía bị đơn nêu ra là chung chung và dự kiến trong tương lai sẽ xảy ra, do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn 500.000.000 đồng là không phù hợp với quy định tại Điều 204 Luật sở hữu trí tuệ.
[4] Đánh giá tổng hợp toàn bộ các tài liệu, chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty D sửa một phần Bản án sơ thẩm theo nhận định trên.
[5] Do sửa một phần Bản án sơ thẩm nên nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với khoản tiền bồi thường thiệt hại 500.000.000 đồng không được chấp nhận.
[6] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị đơn không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn về nội dung công khai xin lỗi là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 123, khoản 1 Điều 124, khoản 1 Điều 125, khoản 1 Điều 126, Điều 201, Điều 202, Điều 204, Điều 205 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009; các Điều 16, 20 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ; Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng của bị đơn Công ty TNHH D (nay là Công ty Cổ phần D).
Sửa một phần bản án sơ thẩm số 09/2022/KDTM-PT ngày 18-7-2022 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:
- Tuyên bố hành vi sản xuất, kinh doanh các dược phẩm, bao gồm thuốc Zlatko - 25, Z1 - 50 và Zlatko – 100 của Công ty Cổ phần D chứa dược chất Sitagliptin phosphat minohydrat là yếu tố xâm phạm quyền đối với Sáng chế được bảo hộ theo các điểm yêu cầu bảo hộ 15, 16 và 18 thuộc Bằng độc quyền sáng chế số 5684 của M (US); và là yếu tố xâm phạm quyền đối với Sáng chế được bảo hộ theo các điểm yêu cầu bảo hộ 1 và 2 thuộc Bằng độc quyền sáng chế số 7037 của M & Dohme C (US). (Trong khoảng thời gian từ ngày 18/6/2004 đến ngày 18/6/2024)
- Áp dụng các biện pháp dân sự đối với Công ty Cổ phần D như sau:
- Công ty Cổ phần D phải bồi thường cho Merck S1 & Dohme Corp. (US) khoản sau:
- - Thanh toán khoản chi phí 300.000.000 đồng để thuê luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Merck S1 & Dohme C (US).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thanh toán số tiền trên thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Buộc Công ty Cổ phần D phải công khai xin lỗi Merck Sharp & Dohme Corp. (US) trên B2 trong 3 số liên tiếp với nội dung ghi rõ: Công ty Cổ phần D đã có hành vi vi phạm khi sản xuất và cho lưu thông trên thị trường thuốc Zlatko - 25, Zlatko - 50 và Z1 – 100 có chứa dược chất Sitagliptin phosphat minohydrat là yếu tố xâm phạm quyền đối với Sáng chế được bảo hộ theo Bằng độc quyền sáng chế số 5684 và số 7037 của Merck S1 & Dohme C (US). (Trong khoảng thời gian từ ngày 18/6/2004 đến ngày 18/6/2024). Chi phí đăng báo xin lỗi do Công ty Cổ phần D chịu.
- Công ty Cổ phần D phải bồi thường cho Merck S1 & Dohme Corp. (US) khoản sau:
- Không chấp nhận các yêu cầu sau của Merck S1 & Dohme Corp. (US): Yêu cầu về việc tiêu hủy, dưới sự chứng kiến của Merck S1 & Dohme C (US), tất cả các sản phẩm xâm phạm còn trong kho cũng như các nguyên liệu thô, vật liệu và máy móc được sử dụng chủ yếu để sản xuất và/hoặc buôn bán sản phẩm thuốc có tên Z1 xâm phạm quyền đối với các Bằng độc quyền sáng chế số 7037 và số 5684; Yêu cầu về việc buộc Công ty Cổ phần D phải thu hồi trên thị trường tất cả các sản phẩm thuốc Zlatko đã xâm phạm quyền đối với các Bằng độc quyền sáng chế số 7037 và số 5684.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Merck S1 & Dohme C (US) về việc buộc Công ty Cổ phần D phải bồi thường thiệt hại 500.000.000 đồng
- Về án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm:
- - Công ty Cổ phần D phải chịu án phí 15.000.000 đồng.
- - Merck Sharp & Dohme C (US) phải chịu án phí đối với số tiền 500.000.000 đồng không được chấp nhận là 24.000.000 đồng. Khấu trừ số tiền 18.000.000 đồng M (US) đã nộp tạm ứng án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0010883 ngày 05/01/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương vào phần án phí phải chịu. M3 Corp. (US) còn phải nộp 6.000.000 đồng
- Về chi phí giám định:
Công ty Cổ phần D phải chịu 37.000.000 đồng. M3 Corp. (US) được nhận lại tiền tạm ứng chi phí giám định đã nộp (37.000.000 đồng), sau khi Công ty Cổ phần D thực hiện nghĩa vụ nộp chi phí giám định.
- Về án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Công ty Cổ phần D không phải chịu tiền án phí phúc thẩm. Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương hoàn trả Công ty D số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 2.000.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000222 ngày 05-8-2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Vũ Đức Toàn | Lê Thúy Cầu | Hoàng Minh Thịnh |
Bản án số 76/2024/KDTM-PT ngày 19/09/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ về độc quyền sáng chế
- Số bản án: 76/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ về độc quyền sáng chế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng của bị đơn Công ty TNHH Dược phẩm Đạt Vi Phú. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 09/2022/KDTM-PT ngày 18-7-2022 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
