TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN Bản án số: 76/2024/HSST Ngày: 23-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Đức Bảo. |
Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Công Danh. |
Ông Nguyễn Thanh An. |
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Ông Phan Sâm Rin – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2024/TLST - HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn S, sinh ngày: 07/11/1994.
Tên gọi khác: Bánh Xèo.
Nơi thường trú: I V, Phường E, Quận E, Tp .; Nơi ở hiện tại: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: không; Dân tộc: Hoa; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T và bà Lưu Miêu C; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: Quyết định số 585/QĐ-XPHC, ngày 23/01/2024 của Công an xã L, huyện C xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Nhân thân: Bản án số 25/2013/HSST ngày 21/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, xử phạt 03 năm tù, về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 26/5/2015. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Mai Thị Thanh T1, sinh năm: 2006 (vắng mặt).
Cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Nguyễn Trường T2, sinh năm: 1990 (có mặt).
Cư trú: 112 Lầu B T, Phường E, Quận E, Tp .. - Dương Tấn T3, sinh năm: 1985 (vắng mặt).
Cư trú: 3 L, Phường 1, Quận A, Tp. - Đoàn Ngọc Ả, sinh năm: 1983 (vắng mặt).
Cư trú: 2 T, Phường H, Quận E, Tp .. - Phạm Minh K, sinh năm: 1981 (vắng mặt).
Cư trú: I A, Phường A, Quận F, Tp .. - Mai Quốc K1, sinh năm: 1998 (vắng mặt).
Cư trú: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, nên vào khoảng 14 giờ ngày 18/6/2024 Trần Văn S đi bộ ra khu vực gần nhà mình tìm tài sản để lấy trộm. Khi S đi đến sân bóng chuyền, thuộc ấp L, xã L, huyện C, phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha màu trắng đen bạc, biển số: 62M1-397.88 của chị Mai Thị Thanh T1 đang đậu trước nhà dân, không người trông coi nên S nảy sinh ý định chiếm đoạt. Lúc này, S đi lại nơi dựng xe lén lút dẫn xe ra ngoài, dẫn bộ đến 01 tiệm sửa xe ở xã H, huyện B, nhờ tháo dây max xe, nổ máy rồi S điều khiển xe đến khu vực Quận E, Tp., gặp bạn tên Nguyễn Trường T2 nhờ bán xe giùm. Sau đó, T2 liên lạc cho Dương Tấn T3 thỏa thuận bán xe được 1.500.000 đồng. Sau khi mua xe, T3 bán xe này lại cho Đoàn Ngọc Ả cũng với giá 1.500.000 đồng, để Ả làm phương tiện chạy xe ôm. Khi Ả đem xe đi làm chìa khóa thì nhìn thấy trong cốp xe có giấy chứng nhận đăng ký xe nên Ả đem xe này đến tiệm cầm đồ 918, địa chỉ: I A, Phường A, Quận F, Tp., cầm xe cho Phạm Minh K với số tiền 5.000.000 đồng. Qua truy xét, Công an xã L, huyện C mời S về làm việc, S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Kết luận định giá tài sản số: 33/KL-HĐĐGTS ngày 24/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện C, kết luận: 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng đen, biển số: 62M1-397.88, trị giá 9.667.000 đồng (chín triệu sáu trăm sáu mươi bảy ngàn đồng).
Tại bản cáo trạng số 75/CT-VKSCG, ngày 06/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Trần Văn S từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 520.000 đồng do bị cáo S giao nộp, do đây là tiền bán xe mô tô cho Dương Tấn T3 trả cho bị cáo và do những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu và tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 giấy cầm xe mô tô.
- Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ và hoàn trả cho bị hại Mai Thị Thanh T1: 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng đen, biển số: 62M1-397.88 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Mai Quốc K1, là phù hợp, nên đề nghị không xem xét.
- Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phạm Minh K không yêu cầu Đoàn Ngọc Ả trả lại số tiền cầm xe, nên đề nghị không xem xét.
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Vào khoảng 14 giờ ngày 18/6/2024, tại ấp L, xã L, huyện C, bị cáo S lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha, biển số: 62M1-397.88, của chị Mai Thị Thanh T1 đang đậu trước nhà dân, không người trông coi. Sau đó, bị cáo S đem xe đi bán được số tiền 1.500.000 đồng tiêu xài cá nhân. Qua truy xét, Cơ quan Công an mời làm việc, bị cáo S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Theo Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS, ngày 24/6/2024 kết luận giá trị tài sản bị cáo S chiếm đoạt trị giá: 9.667.000 đồng. Tài sản bị cáo S chiếm đoạt có giá trị trên 2.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Sau khi chiếm đoạt được xe mô tô, bị cáo S nhờ Nguyễn Trường T2 bán xe mô tô cho Dương Tấn T3, sau đó T3 bán tiếp cho Đoàn Ngọc Ả sử dụng chạy xe ôm và Ả tiếp tục cầm xe mô tô cho Phạm Minh K. Nhưng, T2, T3, Ả và K đều không biết xe trên là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý, là phù hợp.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do đó, cần thiết xử lý bị cáo bằng một hình phạt thỏa đáng mới có thể giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: không.
[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo phạm tội nhưng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Xét về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: theo Quyết định số 585/QĐ-XPHC, ngày 23/01/2024 của Công an xã L, huyện C xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và theo Bản án số 25/2013/HSST ngày 21/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, xử phạt 03 năm tù, về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 26/5/2015, đã xóa án tích. Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[8] Về tang vật thu giữ:
[8.1] Đối với số tiền 520.000 đồng do Trần Văn S giao nộp, đây là tiền do bán xe mô tô cho Dương Tấn T3 trả cho bị cáo, do những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu, nên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước; Đối với 01 (một) giấy cầm xe mô tô là chứng cứ, nên tiếp tục lưu hồ sơ vụ án. Là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
[8.2] Đối với 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng đen, biển số: 62M1-397.88 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Mai Quốc K1. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tạm giữ và hoàn trả cho bị hại Mai Thị Thanh T1, là phù hợp.
[9] Về trách nhiệm dân sự: bị hại Mai Thị Thanh T1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, tại phiên tòa vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 95) không yêu cầu, nên không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phạm Minh K, tại phiên tòa vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 76) không yêu cầu Đoàn Ngọc Ả trả lại số tiền cầm xe là 5.000.000 đồng, nên không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Mai Quốc K1 (là anh trai bị hại) là người đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, tại phiên tòa vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 96) không yêu cầu, nên không xem xét.
[10] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trần Văn S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/6/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (23/9/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
Về tang vật:
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền 520.000 đồng (năm trăm hai mươi ngàn đồng).
Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 50/QĐ-VKSCG, ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.
Về án phí:
bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm
công khai báo cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN ĐỨC BẢO |
Bản án số 76/2024/HSST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 76/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn S phạm tội "Trộm cắp tài sản"
