|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 76/2024/HSST Ngày 30/5/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự Do - hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
Với thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Ngọc Kinh Luân
Các hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Xoa
- Ông Phạm Công Lương.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Trần Minh Tâm - Cán bộ Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quốc - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Phùng Đức Anh T - Sinh ngày 16 tháng 12 năm 2000; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ G, thôn Đ, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: không; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không ; Con ông Phùng Đình B và bà Lê Thị Q. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/12/2023, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (các ông/bà):
- + Anh Phùng Thanh T1, sinh năm 2003. Địa chỉ liên hệ: Tổ G, thôn Đ, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Quang H, sinh năm 2000. Địa chỉ liên hệ: Tổ H, thôn Đ, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- + Anh Võ Minh Tuấn V, sinh năm 1999. Địa chỉ liên hệ: Tổ H, thôn Đ, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
- + Anh Lê Gia H1, sinh năm 2002. Địa chỉ liên hệ: 30 V, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
- + Anh Võ Thành D, sinh năm 2001. Địa chỉ liên hệ: Tổ H, thôn Đ, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng giữa tháng 9/2023, do có nhu cầu hút thuốc lá điện tử nên Phùng Đức Anh T, Phùng Thanh T1, Nguyễn Quang H và Võ Minh T2 đều cùng thôn Đ, xã H, huyện H, TP ., rủ nhau cùng góp tiền để T mua tinh dầu về sử dụng.
Sau đó, thông qua ứng dụng T3, T thấy có tài khoản bán tinh dầu có ma túy cần sa nên đặt mua 100ml với giá 3.000.000 đồng; người này yêu cầu T chuyển khoản thanh toán tiền (T không còn nhớ rõ số tài khoản). T đến tại 01 cửa hàng V1 (không rõ địa chỉ) trên đường Ô, quận C, TP . để chuyển tiền vào tài khoản theo yêu cầu của người bán. Sau đó, có người giao hàng (không rõ lai lịch) đem đến giao tinh dầu có ma túy cần sa cho T. Sau khi nhận được T pha thêm nước cất thành 200ml rồi chiết ra chia cho T2, H và V mỗi người 50ml, T giữ lại để sử dụng 50ml (T biết trong tinh dầu này có ma tuý cần sa; còn T2, H, V không biết).
Sau khi T2 sử dụng hết tinh dầu do T chia cho trước đó. Đến khoảng 20 giờ ngày 06/11/2023, qua ứng dụng Zalo T4 liên hệ với T mua 10ml tinh dầu. Do đang cần tiền nên T đồng ý bán với giá 300.000 đồng và nói T4 trả thêm 30.000 đồng tiền xăng xe. Sau đó, T4 có nhờ anh Lê Gia H1 chuyển giúp số tiền 330.000 đồng vào số tài khoản 111612200043, Ngân hàng M của T (Gồm: 300.000 đồng tiền mua tinh dầu và 30.000 đồng tiền xăng xe cho T). Do không có xe nên T liên lạc nhờ Võ Thành D chở đi giúp (D không biết việc T đi bán ma túy). Khi D điều khiển xe mô tô biển số 43K1-378.29 chở T đến trước số nhà E đường X, phường T, quận H, TP . để giao 10ml tinh dầu có ma tuý cần sa cho T4 nhưng chưa kịp giao thì bị Tổ công tác 911 Công an thành phố Đ phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Kết quả kiểm tra phát hiện thu giữ trong túi áo khoác bên trái của T có 01 hộp nhựa, bên trong có 04 bình nhựa chứa dung dịch (T khai nhận là ma túy đem bán cho T4); Trong túi áo khoác bên phải thu giữ 03 bình nhựa chứa dung dịch (T khai nhận đây là ma túy để T sử dụng).
Vật chứng thu giữ:
- 01 hộp nhựa, bên trong có 04 bình nhựa chứa dung dịch, được niêm phong ký hiệu A. 03 bình nhựa chứa dung dịch, được niêm phong ký hiệu B; 01 xe mô tô biển số 43K1-378.29; 01 áo khoác đen thu giữ của T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, gắn sim số 0777.969.991. Kèm theo bản ảnh vật chứng thu giữ.
Biên bản kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, gắn sim số 0777.969.991 của Phùng Đức Anh T: Phần tin nhắn trong ứng dụng Zalo đối với Phùng Thanh T1 có nội dung liên quan đến việc mua bán ma túy. Kết quả xét nghiệm chất ma túy thông qua mẫu nước tiểu bằng que thử: T, D, T1, H1 và V đều âm tính với ma túy.
Theo Kết luận giám định số 2348/KL-KTHS ngày 17/11/2023 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng:
- Mẫu niêm phong ký hiệu A được chia thành:
- Chất lỏng màu vàng nhạt đựng trong bình nhựa màu trắng cao 5cm.
- Chất lỏng màu vàng đựng trong 02 bình nhựa màu trắng cao 5cm.
- Chất lỏng màu vàng đựng trong bình nhựa màu trắng cao 4cm.
- Mẫu niêm phong ký hiệu B được chia thành:
- Chất lỏng màu vàng nhạt đựng trong bình nhựa màu trắng cao 8,5cm.
- Chất lỏng màu vàng nhạt đựng trong bình nhựa màu trắng cao 5cm.
- Chất lỏng màu vàng đựng trong bình nhựa màu trắng cao 4cm.
Kết luận về đối tượng giám định:
- Mẫu chất lỏng màu vàng nhạt nêu tại mục 1.1, 1.4 và 1.5 gửi giám định đều có tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA; thể tích từng mẫu cụ thể như sau: mẫu 1.1 là 05ml, mẫu 1.4 là 01ml, mẫu 1.5 là 02ml.
- Mẫu chất lỏng màu vàng nêu tại mục 1.2 và 1.3 gửi giám định đều có tìm thấy chất ma túy ADB-BUTINACA; thể tích từng mẫu cụ thể như sau: mẫu 1.2 là 10ml, mẫu 1.3 là 04ml.
- Mẫu chất lỏng màu vàng nêu tại mục 1.6 gửi giám định đều có tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA và ADB-BUTINACA; thể tích mẫu là 04ml.
- Hiện nay, Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng không có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA và ADB-BUTINACA nên không thể xác định được nồng độ cũng như khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA và ADB-BUTINACA trong các mẫu vật gửi giám định.
Theo Kết luận giám định số 9435/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của V2, Bộ C1 kết luận: Hàm lượng, khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA và ADB-BUTINACA trong các mẫu gửi giám định như trong bảng sau:
| Kí hiệu mâu | Thể tích mẫu | Nồng độ (mg/ml) và khối lượng (mg) ADB-BUTINACA | Nồng độ (mg/ml) và khối lượng (mg) MDMB-4en-PINACA |
|---|---|---|---|
| Mẫu kí hiệu 1.1 (A) | 4,5ml | 0,98mg/ml và 4,41mg | |
| Mẫu kí hiệu 1.2 (A) | 9,0ml | 4,3mg/ml và 38,7mg | |
| Mẫu kí hiệu 1.3 (A) | 3,5ml | 5,0mg/ml và 17,5mg | |
| Mẫu kí hiệu 1.4 (B) | 0,5ml | 0,7mg/ml và 0,35mg | |
| Mẫu kí hiệu 1.5 (B) | 1,5ml | 0,42mg/ml và 0,63mg | |
| Mẫu kí hiệu 1.6 (B) | 3,0ml | 2,66mg/ml và 7,98mg | 0,76mg/ml và 2,28mg |
Như vậy số ma túy của Phùng Đức Anh T mang đi bán gồm 0,0049 gam ma túy loại MDMB – 4en PICANA và 0,063 gam ma túy lạo ADB –BUTINACA.
Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 19 tháng 4 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phùng Đức Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh nói trên đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Phùng Đức Anh T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù
Về xử lý vật chứng và áp dụng các biện pháp tư pháp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đề nghị HĐXX xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa; bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người đã tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội: Khoảng 20 giờ ngày 06/11/2023, Phùng Thanh T1 sử dụng ứng dụng Zalo liên hệ với Phùng Đức Anh T để mua 10ml tinh dầu chứa ma túy với giá 300.000 đồng, hẹn giao dịch tại trước số E đường X, phường T, quận H, TP ., T đồng ý. Sau đó, T nhờ Võ Thành D điều khiển xe mô tô biển số 43K1-378.29 chở T đến địa điểm giao hàng. Khi đến nơi, T chưa kịp bán cho T1 thì bị Tổ công tác 911 Công an thành phố Đ phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua đó, thu giữ, Trong túi áo khoác bên trái của T có 01 hộp nhựa, bên trong chứa 05ml ma túy loại MDMB-4en-PINACA và 14ml ma túy loại ADB-BUTINACA (T khai nhận đây là ma túy để bán cho T1); trong túi áo khoác bên phải thu giữ 03 bình nhựa chứa 03ml ma túy loại MDMB-4en-PINACA; 04ml ma túy loại MDMB-4en-PINACA và ADB-BUTINACA. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phùng Đức Anh T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS như Cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án thì thấy: Trong thời gian gần đây tình hình mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép các chất ma tuý đang có chiều hướng gia tăng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm chặn đứng, đẩy lùi tệ nạn này và một trong những biện pháp nhằm đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma tuý là việc xử lý hình sự nghiêm khắc các hành vi phạm tội về ma tuý. Phùng Đức Anh T đủ nhận thức để biết pháp luật hình sự đã nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ các chất ma túy dưới mọi hình thức nhưng bị cáo vẫn cố tình phạm tội. Khi bị bắt quả tang, ngoài số ma túy bị cáo khai nhận cất giấu để bán cho Phùng Thanh T1. Số ma túy còn lại đang được cất giấu trong người, bị cáo khai rằng cất giấu để sử dụng nhưng Hội đồng xét xử xét thấy ngay từ đầu bị cáo đã có ý chí giao dịch việc mua bán ma túy với người khác nên bị cáo cũng vẫn chịu trách nhiệm hình sự về toàn bộ số lượng ma túy bị cáo mà bị cáo đang cất giấu trên người. Với hành vi trên, do vậy cần thiết phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét sau khi phạm tội bị cáo Phùng Đức Anh T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS và sẽ được HĐXX xem xét khi lượng hình.
Xét thấy bị cáo hiện đang bị tạm giam, không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 đối với bị cáo là thỏa đáng.
[5] Trong vụ án này: Đối với người đã bán và người giao tinh dầu chứa ma túy cho T, hiện chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận H tiếp tục điều tra, xử lý sau; Đối với Phùng Thanh T1, Nguyễn Quang H và Võ Minh T2 V có hành vi cùng góp tiền để lấy tinh dầu về sử dụng nhưng không biết trong tinh dầu có chứa chất ma túy, và cũng không thu giữ được số lượng tinh dầu này. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an quận H không đề cập xử lý là có căn cứ; Võ Thành D chở T đi bán ma túy và Lê Gia H1 chuyển tiền mua ma túy giúp cho T2. Tuy nhiên, D và H1 đều không biết về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của T, do vậy Cơ quan CSĐT Công an quận H không đề cập xử lý là có căn cứ.
[6] Về xử lý tang vật:
- Đối với xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 43K1-378.29 do ông Võ C ( Cha ruột của Võ Thành D) đứng tên chủ sở hữu. Ông C đưa xe cho D mượn làm phương tiện đi lại, không biết việc D dùng xe chở T sử dụng vào việc phạm tội. Do đó, ngày 30/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an quận H đã trả xe lại cho ông C là có căn cứ, không đề cập xem xét giải quyết.
- Đối với mẫu vật sau giám định và vỏ bao gói mẫu được hoàn lại trong niêm phong số 9435/C09(TT2) theo biên bản đóng gói niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định. Đây là loại ma túy mà pháp luật nên tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 áo khoác đen không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, gắn sim số 0777.969.991 của bị cáo Phùng Đức Anh T dùng vào việc phạm tội nên tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước là thỏa đáng.
[6] Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000 đồng..
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố: Bị cáo Phùng Đức Anh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Phùng Đức Anh Tú 02 ( hai ) năm 06 ( sáu ) tháng tù. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt giam, ngày 29/12/2023.
3. Về xử lý tang vật: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:
- + Tịch thu tiêu hủy đối với mẫu vật sau giám định và vỏ bao gói mẫu được hoàn lại trong niêm phong số 9435/C09(TT2) theo biên bản đóng gói niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định và 01 áo khoác đen của Phùng Đức Anh T
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, gắn sim số 0777.969.991.
(Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục THA dân sự quận H theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/5/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu).
4. Án phí HSST bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.
5. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay, ngày 30/5/2024. Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà ĐẶNG NGỌC KINH LUÂN |
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU TP. ĐÀ NẴNG Số: 97/2024/HSST-QĐTG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phú Hải Châu, ngày 30 tháng 5 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – TP. ĐÀ NẴNG
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Kinh L
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xoa
Ông Phạm Công L1
Căn cứ vào các Điều 109, 113, 119 và Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 30/5/2024 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1
Tạm giam bị cáo: Phùng Đức Anh T - Sinh ngày 16 tháng 12 năm 2000
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ G, thôn Đ, xã H, huyện H thành phố Đà Nẵng.
Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 30 tháng 5 năm 2024.
Điều 2
Nhà tạm giữ Công an quận H, thành phố Đà Nẵng có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đặng Ngọc Kinh Luân |
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hải Châu, ngày 16 tháng 12 năm 2022 |
Bản án số 76/2024/HSST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 76/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
