|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2024/HS-ST
Ngày: 30-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Hữu Thỏa.
- Ông Đậu Cao Nhu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Tình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kiều - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024. Phiên tòa được xét xử theo hình thức trực tuyến. Điểm cầu chính: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Điểm cầu thành phần: tại Trại giam Công an tỉnh N. Hỗ trợ tại điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh N: ông Nguyễn Văn S - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Văn H (tên gọi khác: không); sinh năm: 1984 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Công chức; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn S1 và bà: Chu Thị D; vợ: Nguyễn Thị H1 và 04 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam: từ ngày 27/01/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1978. Nơi cư trú: xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Trung C, sinh năm 1965. Nơi cư trú: xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bà Hồ Thị N, sinh năm 1961. Nơi cư trú: xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bà Hồ Thị Q, sinh năm 1958. Nơi cư trú: xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị P, sinh năm 1980. Nơi cư trú: xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Bùi H2, sinh năm 1986. Nơi cư trú: xóm I, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Trần N1, sinh năm 1955. Nơi cư trú: xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị S2, sinh năm 1969. Nơi cư trú: xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bà Bùi Thị H3, sinh năm 1970. Nơi cư trú: xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bà Hồ Thị H4, sinh năm 1959. Nơi cư trú: xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bà Hồ Thị T, sinh năm 1952. Nơi cư trú: xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Đoàn K1, sinh năm 1963. Nơi cư trú: xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1983. Nơi cư trú: xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1975. Nơi cư trú: xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1966. Nơi cư trú: xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Trần Văn Q1, sinh năm 1948. Nơi cư trú: xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Văn H là Công chức Tư pháp - Hộ tịch UBND xã Q. Theo Quy chế làm việc của UBND xã khóa X nhiệm kỳ 2021-2026 và Văn bản trả lời cơ quan điều tra số 12/UBND ngày 22/01/2024 của UBND xã Q, Phan Văn H có nhiệm vụ sau:
Tham mưu, giúp UBND xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong các lĩnh vực: Tư pháp và hộ tịch trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
Tiếp nhận, kiểm tra các đơn thư để tham mưu Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã xem xét giải quyết.
Cùng với cán bộ Địa chính giải quyết các vấn đề khiếu nại, tranh chấp về đất đai, tuyên truyền phổ biến pháp luật để các tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ công dân.
Chủ trì, phối hợp với công chức khác thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở.
Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do Chủ tịch UBND giao.
Thực hiện lập, chứng thực văn bản phân chia di sản thừa kế về đất đai và tài sản gắn liền với đất và lập, chứng thực hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, các hợp đồng ủy quyền.
Phan Văn H không có nhiệm vụ thu tiền, lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trong khoảng thời gian từ tháng 02/2021 đến tháng 10/2023 H vẫn thu tiền, lập các hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và một số yêu cầu về lĩnh vực đất đai để nhận tiền của các hộ dân, sau đó sử dụng vào mục đích cá nhân, cụ thể:
- Khoảng tháng 02/2021, H nhận của ông Nguyễn Ngọc K số tiền 10.500.000₫ để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông nội Nguyễn Kiều s cho ông K trong thời hạn 03 tháng. H đã làm Văn bản giải trình về việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Danh sách công khai kết quả kiểm tra hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Biên bản kết thúc công khai kết quả xét duyệt hồ sơ đăng ký biến động theo văn bản phân chia thừa kế cho ông Nguyễn T3; Đơn đăng ký biến động đất đai...; Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Văn bản đề nghị miễn (giảm) thuế; Văn bản khai nhận di sản thừa kế. Hồ sơ chưa nộp bộ phận một cửa.
- Tháng 8/2021, H nhận của ông Nguyễn Trung C số tiền 12.000.000₫ để làm thủ tục chuyển quyền thừa kế thửa đất mang tên ông Hoàng C1 sang cho bà Nguyễn Thị T4, sau đó tách thửa để chuyển nhượng cho ông C1. H đã lập một bộ hồ sơ gồm Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, Đơn xin xác nhận lại diện tích đất ở, Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận, Văn bản giải trình, Đơn đăng ký biến động, Danh sách. Hồ sơ đã nộp tại Bộ phận một cửa UBND huyện Q. Ngày 09/10/2023 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Q có Phiếu xin lỗi và yêu cầu bổ sung hồ sơ. Sau đó, H không làm gì nữa.
- Ngày 13/9/2023, H nhận của bà Hồ Thị N số tiền 18.000.000đ để làm thủ tục chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất từ ông Thái Văn G sang cho bà N nhưng H không làm thủ tục gì.
- Khoảng tháng 3/2022, H nhận của bà Hồ Thị Q số tiền 15.000.000đ để làm thủ tục chuyển quyền thừa kế quyền sử dụng thửa đất mang tên ông Nguyễn Quang Đ sang cho bà Q, với thời hạn 06 tháng. Theo H khai H đã lập hồ sơ gửi đến Bộ phận một cửa nhưng hồ sơ có nhiều sai sót phải bổ sung. H tiếp tục chỉnh sửa nhưng vẫn bị trả lại nên H không làm thủ tục gì nữa.
- Khoảng tháng 3/2022, H nhận của bà Trần Thị P số tiền 12.000.000₫ để làm thủ tục thừa kế quyền sử dụng thửa đất mang tên ông Trần Văn T5 sang cho bà Hồ Thị Q2 rồi tách thành 02 thửa. H khai đã lập hồ sơ nhưng hồ sơ có sai sót bị trả về nên H không làm thủ tục gì nữa.
- Ngày 28/9/2022, H nhận của ông Bùi H2 số tiền 20.900.000đ để làm thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất từ bà Nguyễn Thị L1 sang cho các con của bà L1. H khai H đã lập hồ sơ phân chia di sản thừa kế, đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng hồ sơ không đảm bảo quy định nên bị trả về. H không làm thủ tục gì nữa.
- Khoảng tháng 10/2022, H nhận của ông Trần N1 số tiền 12.000.000₫ để làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất từ ông N1 sang cho các con. H khai H lập hồ sơ gửi đến bộ phận một cửa nhưng bị trả lại vì hình thể thửa đất thay đổi. Sau đó, H không làm thủ tục gì nữa.
- Khoảng tháng 10/2022, H nhận của bà Trần Thị S2 số tiền 10.000.000₫ để làm thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất. H khai H đã lập một bộ hồ sơ đề nghị đo đạc chỉnh lý bản đồ nhưng do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp sai tên chủ sử dụng nên bị trả. Sau đó, H không làm thủ tục gì nữa.
- Khoảng cuối năm 2022, H nhận của bà Bùi Thị H3 số tiền 5.000.000đ để làm thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất nhưng không làm thủ tục gì vì đất có tranh chấp.
- Ngày 15/3/2023, H nhận của bà Hồ Thị H4 số tiền 15.000.000đ để làm thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất từ ông Hồ Đ1 sang cho bà H4 rồi làm thủ tục tách thửa cho các con. H khai H đã lập hồ sơ nộp đến bộ phận một cửa nhưng bị trả lại do hiện trạng đất thay đổi, sau đó H không làm nữa.
- Khoảng tháng 3/2023, H nhận của bà Hồ Thị T số tiền 12.000.000đ để làm thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Văn T6 sang cho bà T, rồi làm thủ tục tách thửa cho các con. H không làm thủ tục gì.
- Khoảng giữa tháng 4/2023, H nhận của ông Đoàn K1 số tiền 30.000.000₫ để làm thủ tục phân chia di sản thừa kế, sau đó làm thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất mang tên ông Đoàn H5 sang cho vợ chồng ông K1 nhưng H không làm thủ tục gì.
- Khoảng tháng 5/2023, H nhận của ông Nguyễn Hữu T1 số tiền 18.000.000₫ để làm thủ tục tách thửa từ thửa đất mang tên ông Hồ Hữu Q3 sang cho các con với thời hạn 04 tháng sẽ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng không làm thủ tục gì.
- Khoảng giữa tháng 7/2023, H nhận của ông Nguyễn Hữu L số tiền 10.000.000đ để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Hữu H6 sang cho ông L. H khai H đã lập hồ sơ nộp bộ phận một cửa nhưng bị trả vì có sai sót nên H không làm nữa.
- Sáng ngày 15/8/2023, H nhận của ông Nguyễn Hữu T2 số tiền 5.000.000₫ để làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất từ ông T2 sang cho các con và nâng hạn mức đất ở. H khai H đã lập hồ sơ nộp bộ phận một cửa nhưng bị trả vì có sai sót nên H không làm nữa.
- Khoảng cuối tháng 10/2023, H nhận của ông Trần Văn Q1 số tiền 12.000.000đ để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Q1 thành 03 thửa nhưng không làm thủ tục gì.
Tổng cộng Phan Văn H đã nhận số tiền: 224.400.000đ (hai trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng).
Bản cáo trạng số 62/CT-VKS-QL ngày 07/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố Phan Văn H về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 355 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c, d khoản 2 Điều 355; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn H 05 năm - 05 năm 06 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
Trách nhiệm dân sự: không xem xét.
Án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Không tranh luận gì về tội danh và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị. Lời nói sau cùng: bị cáo đã thấy được việc làm của mình là sai, xin lỗi các bị hại, xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn H thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận trong khoảng thời gian từ 02/2021 đến tháng 10/2023 bị cáo không được giao, không được phân công thu phí, lệ phí, không có thẩm quyền lập thủ tục tách thửa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có hành vi sử dụng vượt quá quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ được giao nhận số tiền 224.400.000đ (hai trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng) của các ông, bà Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Trung C, Hồ Thị N, Hồ Thị Q, Trần Thị P, Bùi H2, Trần N1, Trần Thị S2, Bùi Thị H3, Hồ Thị H4, Hồ Thị T, Đoàn K1, Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Hữu L, Nguyễn Hữu T2 và Trần Văn Q1. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước và quyền sở hữu của công dân, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Phạm tội với lỗi cố ý, vì mục đích vụ lợi. Như vậy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng, chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 355 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
- Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo gây dư luận không tốt đối với nhân dân địa phương nơi bị cáo cư trú và làm việc, nên cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bản thân được UBND huyện Q, UBND xã Q tặng Giấy khen, bố đẻ bị cáo (ông Phan Văn S1) được U, Chủ tịch UBND tỉnh N tặng Bằng khen. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, sau khi phạm tội đã tích cực tác động gia đình khắc phục hậu quả và bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra, nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ để giáo dục bị cáo.
- Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 355 Bộ luật Hình sự “người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Bị cáo bị xử phạt tù, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường thiệt hại, không ai có yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.
- Về những vấn đề khác: Ông Trần Văn T7 – Phó Chủ tịch UBND xã Q và ông Nguyễn Bá M – công chức địa chính UBND xã Q, là những người ký xác nhận một số hồ sơ do bị cáo H đưa đến. Các ông T7, M không biết việc bị cáo nhận tiền, H cũng không hứa hẹn hay đưa lợi ích gì cho ông T7, ông M nên hành vi của ông T7, ông M không phạm tội. Ông Nguyễn Sỹ D1 có đơn tố cáo H, quá trình điều tra xác định đây là giao dịch dân sự giữa ông D1 và H.
- Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: điểm c, d khoản 2 Điều 355; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn H 04 (bốn) năm tù, về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam (ngày 27/01/2024).
- Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Phan Văn H phải nộp số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn H phạm tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
