TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2024/HS-ST Ngày: 28 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trương Thị Kim Tiến
- Bà Lê Thị Xuân Đào
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị Kim T, giới tính: Nữ.
Ngày, tháng, năm sinh: 01/01/1966, nơi sinh: Tỉnh Long An; Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An; Chỗ ở hiện nay: Ô, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên cha: Lê Đăng H, sinh năm 1946 (chết); Họ và tên mẹ: Phan Thị T1, sinh năm 1947 (chết); A, chị, em ruột: Không; Chồng: Trần Minh T2, sinh năm 1966; Con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1989 ; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo Lê Thị Kim T đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/10/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An. Bị cáo có mặt.
Họ và tên: Huỳnh Văn K, giới tính: Nam.
Ngày, tháng, năm sinh: 10/5/2000, nơi sinh: Tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp L, xã R, huyện P, tỉnh Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm hồ; chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Họ và tên cha: Huỳnh Văn T3, sinh năm 1975 (sống); Họ và tên mẹ: Trần Thị D, sinh năm 1975 (sống); A, chị, em ruột: Có 01 người, sinh năm 2007 ; Vợ, con: Không ; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo Huỳnh Văn K đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/10/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An. Bị cáo có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
- Trần Xuân T4, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ô, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Lê Minh T5, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ô, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Huỳnh Bửu T6, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ô, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Phạm Mai Công L, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ô, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Lâm Văn N, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp A, xã N, huyện U, tỉnh Cà Mau.
- Hà Bảo L1, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Phan Thị T7, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số B M, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trần Thị Cẩm N1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Quốc K1, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ô, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Trương Hoài Â, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 8 năm 2023, Lê Thị Kim T do không có tiền nên nảy sinh ý định mua chất ma túy (dạng đá) bán cho những người nghiện ma túy trên địa bàn thị trấn H để thu lợi bất chính. Thông qua mối quan hệ quen biết với một số người có sử dụng trái phép chất ma túy, T biết và mua chất ma túy của một người nam thanh niên tên S không xác định nhân thân lai lịch. Sau khi mua được chất ma túy T trực tiếp bán chất ma túy (dạng đá) cho M Công Luận 04 lần, lần sau cùng là khoảng 15 giờ 30 phút ngày 30/9/2023 T bán cho L chất ma túy dạng đá với giá 200.000 đồng tại nhà T; Hà Bảo L1 09 lần, lần sau cùng là vào ngày 30/9/2023 T bán cho Lê chất ma túy dạng đá với giá 200.000 đồng tại nhà T; Lâm Văn N 04 lần, lần sau cùng là vào ngày 15/9/2023 T bán cho N chất ma túy dạng đá giá 200.000 đồng tại nhà T. Ngoài ra, T còn nhờ Nguyễn Văn T8 là người phụ giúp việc nhà cho T bán chất ma túy và thuê Huỳnh Văn K đến nhà bán ma túy vào các ngày chủ nhật hàng tuần, T trả công cho K 200.000 đồng/ngày còn T8 thì T nuôi cơm. Huỳnh Văn K bán chất ma túy giúp T 02 lần như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 24/9/2023, K bán cho Lê Minh T5 01 túi nylon rãnh khép viền đỏ bên trong có chứa chất ma túy (dạng đá) với giá 200.000 đồng tại nhà T, T5 trực tiếp đưa tiền cho T; K bán chất ma túy cho Huỳnh Bửu T6 01 lần với giá 150.000 đồng tại nhà T, tiền T6 đưa trực tiếp cho T nhưng không xác định được thời gian, K còn bán chất ma túy nhiều lần cho những người nghiện không xác định nhân thân lai lịch trong 07 ngày chủ nhật và được T trả tiền công 1.400.000 đồng.
Nguyễn Văn T8 bán chất ma túy giúp cho T 04 lần như sau: Khoảng 13 giờ ngày 27/9/2023 T đưa cho T8 01 vỏ thuốc lá bên trong chứa chất ma túy với giá 200.000 đồng, T8 đến nhà Lê Minh T5 giao xong rồi đi về; khoảng 13 giờ 30 ngày 28/9/2023, T8 đưa túi nylon rãnh khép viền đỏ chứa chất ma túy đến nhà Lê Minh T5 bán và lấy 200.000 đồng đưa về cho T; khoảng 14 giờ ngày 29/9/2023 Trần Xuân T4 đến mua chất ma túy nên T kêu T8 lấy 01 ống nhựa hàn kín chứa chất ma túy (dạng đá) giá 150.000 đồng, tiền T4 đưa cho T; khoảng 16 giờ ngày 29/9/2023 Huỳnh Bửu T6 hỏi T mua chất ma túy, T8 lấy 01 đoạn ống nhựa chứa chất ma túy dạng đá giá 150.000đồng đưa cho T6, T6 đưa 150.000 đồng cho T8 đưa lại T; T8 bán cho Hà Bảo L1 01 lần nhưng không xác định được thời gian tại nhà T và khoảng 04 lần khác bán cho những người nghiện không xác định nhân thân lai lịch.
Đến khoảng 18 giờ ngày 30/9/2023, Lê Thị Kim T tiếp tục mua chất ma túy của người nam thanh niên tên S với số tiền 6.700.000đồng. Sau khi mua được chất ma túy, T cất giấu chất ma túy phía sau tấm gỗ sát hàng rào kẽm, gần góc cột xi măng trước nhà của T đang ở tại Ô, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Khoảng 19 giờ ngày 30/9/2023, T bán cho Hà Bảo L1 01 túi nylon viền đỏ chứa ma túy (dạng đá) giá 200.000 đồng; khoảng 02 giờ ngày 01/10/2023, T đổi cho Trần Xuân T4 01 đoạn ống nhựa hàn kín chứa ma túy (dạng đá) có giá bán là 150.000 đồng lấy 02 con cá; khoảng 07 giờ ngày 01/10/2023 T bán cho một người thanh niên không xác định nhân thân lai lịch 01 túi nylon viền xanh chứa ma túy dạng đá với giá 500.000đồng; khoảng 08 giờ ngày 01/10/2023, T bán cho Lê Minh T5 01 túi nylon viền đỏ bên trong chứa ma túy (dạng đá) với giá 200.000đồng. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 01/10/2023, T bán cho một người thanh niên không xác định nhân thân lai lịch 02 túi nylon viền xanh chứa ma túy (dạng đá) với giá 500.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày 01/10/2023, T đưa Huỳnh Văn K 01 túi nylon viền đỏ bên trong đựng 02 túi nylon rãnh khép viền đỏ có giá 200.000 đồng/01 túi, 01 túi nylon rảnh khép viền xanh có giá 300.000 đồng và 02 ống nhựa hàn kín có giá 150.000 đồng/01 ống nhựa để K bán cho người nghiện chất ma túy.
Sau khi đưa chất ma túy cho K, T đi công việc cùng Phạm Mai Công L. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, T về đến nhà thì bị Công an huyện Đ, tỉnh Long An đến kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện 01 túi có rãnh khép viền đỏ bên trong chứa 02 túi nylon rãnh khép viền đỏ, 01 túi nylon rãnh khép viền xanh, 02 ống nhựa hàn kín, tất cả chứa tinh thể màu trắng là ma túy (dạng đá) T đưa cho K bán cho người nghiện để phía sau tấm bạt che hàng rào kẽm sau tủ đựng nước do K cất giấu; 01 túi nhựa nylon màu đen bên trong có chứa 01 túi nylon có rãnh khép màu trắng bên trong chứa 17 túi nylon có rãnh khép viền xanh, 41 túi nylon có rảnh khép viền đó, 21 ống nhựa hàn kín và 01 túi nylon có rãnh khép viền đó, tất cả chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy dạng đá để phía sau tấm gỗ sát hàng rào kẽm, gần góc cột xi măng phía trước nhà do T cất giấu. Tiến hành khám xét trong nhà của T phát hiện tạm giữ 01 túi nylon viền đỏ kích thước 5cm x 4,9cm chứa: 02 túi nylon rãnh khép viền xanh; 07 túi nylon rảnh khép viền đỏ kích thước 2cm x 1,5cm chứa ma túy dạng đá ở dưới ghế đá trong nhà và 01 túi nylon rảnh khép viền đỏ 2x 1,5cm chứa ma túy dạng đá ở lối đi trong nhà. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Thị Kim T, Huỳnh Văn K còn Nguyễn Văn T8 ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội.
Vật chứng tạm giữ gồm:
- 01 túi nylon kích thước 8,4cm x 5cm có rảnh khép viền đỏ bên trong chứa: 02 túi nylon kích thước 2cm x 1,5cm rảnh khép viền đỏ; 01 túi nylon có kích thước 2cm x 1,7cm rảnh khép viền xanh; 02 ống nhựa hàn kín kích thước 3,2cm x 1cm tất cả chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy dạng đá (thu giữ của K)
- 01 túi nylon có kích thước 11,9cm x 8cm bên trong chứa: 15 túi nylon kích thước 1,9cm x 1,7cm có rãnh khép viền xanh; 02 túi nylon kích thước 2,9cm x 2,2cm có rảnh khép viền xanh; 41 túi nylon kích thước 1,9cm x 1,6cm có rảnh khép viền đỏ; 21 ống nhựa hàn kín kích thước 3,2cm x 1cm tất cả chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy dạng đá; 01 túi nylon màu đen có quai xách kích thước 15cm x 25cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 216, sim số 0933121024; số tiền: 6.400.000 đồng (thu giữ của T).
- 01 túi nylon viền đỏ kích thước 5cm x 4,9cm chứa: 02 túi nylon rãnh khép viền xanh; 07 túi nylon rảnh khép viền đỏ kích thước 2cm x 1,5cm; 01 túi nylon rảnh khép viền đỏ 2 x 1,5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi ma túy (thu giữ khi khám xét).
Tại Kết luận giám định số 1031/KL-KTHS ngày 09/10/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh L kết luận:
- “1. Túi niêm phong mã số NS4A 166893: Tinh thể màu trắng đựng trong 02 (hai) túi nylon có rãnh khép viền đỏ, 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền xanh và 02 (hai) đoạn ống nhựa hàn kín, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 1,0443 gam, loại Methamphetamine.
- 2. Túi niêm phong mã số NS3A 099362: Tinh thể màu trắng đựng trong 41 (bốn mươi mốt) túi nylon có rãnh khép viền đỏ, 17 (mười bảy) túi nylon có rãnh khép viền xanh và 21 (hai mươi mốt) đoạn ống nhựa hàn kín, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 18,4858 gam, loại Methamphetamine.
- 3. Túi niêm phong ký hiệu 3: Tinh thể màu trắng đựng trong 07 (bảy) túi nylon có rãnh khép viền đỏ và 02 (hai) túi nylon có rãnh khép viền xanh, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 2,4458 gam, loại Methamphetamine.
- 4. Túi niêm phong mã số NS4A 166872: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền đỏ, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0930 gam, loại Methamphetamine.
- H1 lại đối tượng gửi giám định: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,8381 gam (Túi niêm phong mã số: NS4A 166893); 17,7764 gam (Túi niêm phong mã số: NS3A 099362); 1,9757 gam (Túi niêm phong ký hiệu “3”);
- Không hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật phục vụ hết cho công tác giám định (Túi niêm phong mã số: NS4A 166872)”
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKSĐH ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Thị Kim T, Huỳnh Văn K về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a, b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Lê Thị Kim T trình bày: Do bản thân muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo mua ma túy về mục đích bán kiếm lời. Bị cáo thu lợi được số tiền 3.800.000đồng bị cáo đồng ý nộp lại. Đối với số tiền bị tạm giữ là 6.400.000đồng là tiền bị cáo bán vé số mà có không liên quan đến việc mua bán ma túy nên yêu cầu được nhận lại. Đối với sim điện thoại là của bị cáo còn chiếc điện thoại là của con bị cáo bị cáo mượn nên đề nghị trả lại điện thoại cho con bị cáo. Bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Huỳnh Văn K trình bày: Bị cáo thu lợi bất chính được số tiền 1.400.000đồng từ việc bán ma túy bị cáo đồng ý tịch thu số tiền trên. Bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An phát biểu:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a, b, i khoản 2 Điều 251; điểm s, x khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Lê Thị Kim T mức hình phạt từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng a, b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 58, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Huỳnh Văn K mức hình phạt từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Lê Thị Kim T, Huỳnh Văn K2 có hoàn cảnh khó khăn niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo.
- Về tang vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 216 là tài sản của Trần Thị Cẩm N1 (con ruột T). Ngày 01/10/2023, T mượn điện thoại của N1 để sử dụng. N1 không biết T mua bán trái phép chất ma túy nên trả lại cho bà N1.
- - Đối với M1 còn lại sau giám định có khối lượng 0,8381 gam (Túi niêm phong mã số: NS4A 166893); 17,7764 gam (Túi niêm phong mã số: NS3A 099362); 1,9757 gam (Túi niêm phong ký hiệu “3”) là chất ma túy cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với thẻ sim số [...] của bị cáo T dùng vào việc phạm tội và 01 túi nylon màu đen có quai xách kích thước 15cm x 25cm bị cáo không có nhu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Về biện pháp tư pháp: Tịch thu số tiền thu lợi bất chính là 3.800.000đồng sung công quỹ Nhà nước nhưng khấu trừ từ số tiền thu giữ 6.400.000 đồng tịch thu của bị cáo T hoàn lại cho bị cáo T số tiền 2.600.000đồng.
- Tịch thu số tiền 1.400.000đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo K1 có được do bán ma túy mà có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
[2]. Về nội dung vụ án:
Lời khai nhận tội của các bị cáo Lê Thị Kim T và Huỳnh Văn K trước Tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang vào ngày 01 tháng 10 năm 2023, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng với Kết luận giám định số 103/KL-KTHS ngày 09/10/2023 của Phòng K3 - Công an tỉnh L và phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Từ đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 15 giờ 30 ngày 01/10/2023, tại Ô, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An, Công an huyện Đ, tỉnh Long An bắt quả tang Lê Thị Kim T, Huỳnh Văn K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng là 22,0689 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho những người nghiện. Quá trình điều tra xác định được khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2023 đến ngày 01/10/2023, tại Ô, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An, Lê Thị Kim T, Huỳnh Văn K, Nguyễn Văn T8 có hành vi bán trái phép chất ma túy 26 lần cho Lê Minh T5, Trần Xuân T4, Phạm Mai Công L, Huỳnh Bửu T6, Hà Bảo L1, Lâm Văn N. Trong các lần bán trái phép chất ma túy, Lê Thị Kim T trực tiếp bán 20 lần cho L, L1, N, T4, T5; Nguyễn Văn T8 bán giúp T 04 lần cho T5, T6, L1; Huỳnh Văn K bán giúp T 02 lần cho T5, T6 và được T trả tiền công tổng cộng 1.400.000 đồng/07 ngày. Số tiền T thu lợi từ việc bán chất ma túy là 3.800.000 đồng.
Trong vụ án này, bị cáo Lê Thị Kim T thực hiện hành vi phạm tội với vai trò chủ mưu, cầm đầu và cùng bị cáo Huỳnh Văn K và đối tượng Nguyễn Văn T8 trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo có sự phân công nhiệm vụ, thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất lặp đi lặp lại nhiều lần theo quy luật nhất định, có sự câu kết chặt chẽ nhau.
Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Lê Thị Kim T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm a, b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Huỳnh Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm a, b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Lê Thị Kim T và Huỳnh Văn K với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Hành vi của các bị cáo Lê Thị Kim T và Huỳnh Văn K là rất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây tổn hại sức khỏe con người, làm suy thoái nòi giống, gây mất trật tự xã hội.
Khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hậu quả nghiêm trọng đối với xã hội của ma túy. Các bị cáo biết rõ ma túy là một trong những nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, bị nghiêm cấm vận chuyển, mua bán, tàng trữ dưới bất kỳ hình thức nào nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân và thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự.
[4]. Đây là vụ án đồng phạm nên khi quyết định mức hình phạt cần xem xét, phân tích vai trò của từng bị cáo trong vụ án. Trong vụ án này, bị cáo Lê Thị Kim T thực hiện hành vi phạm tội với vai trò chủ mưu, cầm đầu và cùng bị cáo Huỳnh Văn K trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo K có sự phân công nhiệm vụ, thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất lặp đi lặp lại nhiều lần theo quy luật nhất định, có sự câu kết chặt chẽ nhau.
[5]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1]. Đối với bị cáo Lê Thị Kim T:
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; ngoài ra trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo Lê Thị Kim T có xem xét giảm nhẹ một phần.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[5.2]. Đối với bị cáo Huỳnh Văn K:
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Bộ luật Hình sự nên khi áp dụng hình phạt cho các bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[6]. Từ phân tích [3], [4] và [5], xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo Lê Thị Kim T và Huỳnh Văn K là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa bị cáo Lê Thị Kim T và Huỳnh Văn K trình bày có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Thị Kim T và Huỳnh Văn K.
[8]. Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 216 là tài sản của Trần Thị Cẩm N1 (con ruột T). Ngày 01/10/2023, T mượn điện thoại của N1 để sử dụng. N1 không biết T mua bán trái phép chất ma túy nên trả lại cho bà N1 là phù hợp.
Đối với M1 còn lại sau giám định có khối lượng 0,8381 gam (Túi niêm phong mã số: NS4A 166893); 17,7764 gam (Túi niêm phong mã số: NS3A 099362); 1,9757 gam (Túi niêm phong ký hiệu “3”) là chất ma túy cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 túi nylon màu đen có quai xách kích thước 15cm x 25cm bị cáo không có nhu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về biện pháp tư pháp: Tịch thu số tiền bị cáo T thu lợi bất chính là 3.800.000đồng sung công quỹ Nhà nước nhưng khấu trừ từ số tiền 6.400.000 đồng tịch thu của bị cáo T. Tịch thu số tiền 1.400.000đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo K1 có được do việc do việc bán ma túy mà có.
[9]. Đối với hành vi bán chất ma túy cho những người nghiện không xác định nhân thân lai lịch của các bị cáo Lê Thị Kim T, Huỳnh Văn K và đối tượng Nguyễn Văn T8 do chỉ có lời khai duy nhất của các bị cáo nên không có căn cứ để xử lý.
[10]. Đối với Nguyễn Văn T8 là đồng phạm với bị cáo Lê Thị Kim T về tội Mua bán trái phép chất ma túy nhưng vào ngày 14/01/2024 Nguyễn Văn T8 đã tử vong nên Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định đình chỉ điều tra bị cáo số 260 ngày 24/01/2024 đối với Nguyễn Văn T8 là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11]. Đối với Trần Xuân T4, Lê Minh T5, Huỳnh Bửu T6, Phạm Mai Công L, Lâm Văn N, Hà Bảo L1 có hành vi mua trái phép chất ma túy của bị cáo Lê Thị Kim T để sử dụng nhưng chất ma túy mua được đã sử dụng hết không thu hồi được nên hành vi của T4, T5, T6, L, N, Lê không cấu thành tội phạm có liên quan. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với các đối tượng trên.
[12]. Đối với Trần Thị Cẩm N1 là con ruột của bị cáo T, N1 cho T mượn điện thoại vào ngày 01/10/2023, N1 không biết việc T mua bán trái phép chất ma túy nên hành vi của N1 không cấu thành tội phạm có liên quan.
[13]. Đối với Phan Thị T7 cho bị cáo Lê Thị Kim T thuê nhà tại Ô, Khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An nhưng bà T7 không biết việc bị cáo T sử dụng căn nhà trên để bán trái phép chất ma túy nên hành vi của bà T7 không cấu thành tội phạm có liên quan.
[14]. Đối với người nam thanh niên tên S bán chất ma túy cho bị cáo Lê Thị Kim T, do không xác định nhân thân lai lịch chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo T nên đề nghị đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.
[15]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Thị Kim T, Huỳnh Văn K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a, b, i khoản 2 Điều 251; điểm s, x khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Kim T 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2023.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Thị Kim T 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/5/2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a, b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn K 07 (B) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2023.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Huỳnh Văn K 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/5/2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,8381 gam (Túi niêm phong mã số: NS4A 166893); 17,7764 gam (Túi niêm phong mã số: NS3A 099362); 1,9757 gam (Túi niêm phong ký hiệu “3”); 01 túi nylon màu đen có quai xách kích thước 15cm x 25cm và 01 thẻ sim số 0933121024.
- Trả lại cho bà Trần Thị Cẩm N1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 216.
Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Lê Thị Kim T nộp lại số tiền bị thu lợi bất chính là 3.800.000đồng (ba triệu tám trăm ngàn đồng) sung công quỹ Nhà nước nhưng khấu trừ từ số tiền 6.400.000đồng tịch thu của bị cáo T theo Biên lai thu tiền số 0002743 ngày 12/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Hoàn lại cho bị cáo T số tiền 2.600.000đồng.
Buộc bị cáo Huỳnh Văn K phải nộp lại số tiền 1.400.000đồng (Một triệu bốn trăm ngàn đồng) là số tiền thu lợi bất chính.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Thị Kim T và bị cáo Huỳnh Văn K mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm tuyên án công khai bị cáo Lê Thị Kim T và Huỳnh Văn K có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thành |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Kim T, Huỳnh Văn K phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
